HIỆN TƯỢNG DI DÂN NGÀY NAY

 

Thách đố của chuyển động con người

Di dân quốc tế

Di dân quốc nội

 

Phần I

 

DI DÂN, DẤU CHỈ THỜI ĐẠI VÀ MỐI QUAN TÂM CỦA HỘI THÁNH

 

Di dân dưới con mắt đức tin

Di dân và Lich sử Cứu độ

Đức Kitô “ngoại kiều” và Đức Maria, biểu tượng sống của di dân

Hội thánh của ngày Hiện xuống

Giáo hội chăm sóc di dân và người di cư

Exsul Familia

Công Đồng chung Vatican II

Các qui định của Giáo luật

Đường hướng mục vụ của Huấn quyền

Các cơ quan Toà thánh

 

Phần II

 

DI DÂN VÀ VIỆC CHĂM SÓC MỤC VỤ TIẾP ĐÓN

 

Hội nhập văn hoá, đa diện về văn hoá và tôn giáo

Giáo hội của Công đồng Chung Vatican II

Đón tiếp và liên đới

Phụng vụ và việc đạo đức bình dân

Di dân Công giáo

Di dân Công giáo theo nghi lễ Đông phương

Di dân thuộc các Giáo hội và cộng đoàn Giáo hội khác

Di dân thuộc các tôn giáo khác nói chung

Bốn vấn đề cần lưu tâm đặc biệt

Di dân Hồi giáo

Đối thoại liên tôn

 

Phần III

 

CÁC CÁN SỰ TRONG MỤC VỤ CHĂM SÓC CỦA HIỆP THÔNG

 

Trong các Giáo hội quê nhà và Giáo hội tiếp nhận

Điều phối viên các tuyên uý/truyền giáo cấp quốc gia

Tuyên uý/truyền giáo cho di dân

Linh mục giáo phận làm tuyên úy/truyền giáo

Linh mục dòng, sư huynh và nữ tu làm việc cho di dân

Giáo dân, hiệp hội giáo dân và phong trào hội thánh: dấn thân giữa di dân

 

Phần IV

 

CÁC CƠ CẤU CỦA VIỆC CHĂM SÓC MỤC VỤ TRUYỀN GIÁO

 

Hợp nhất trong đa diện: các vấn đề

Các cơ cấu mục vụ

Mục vụ chăm sóc tổng hợp và các khu vực khác nhau

Các đơn vị mục vụ

Kết luận

 

 

SỨ MẠNG HOÀN VŨ

 

Semina Verbi (Hạt giống Lời Chúa)

Những người xây dựng hiệp nhất

Tinh thần đối thoại và truyền giáo trong việc chăm sóc mục vụ

Hội thánh và các Kitô hữu, dấu chỉ của hy vọng.

 

NHỮNG QUI ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ MỤC VỤ

 

Dẫn nhập

Chương I: Tín hữu giáo dân

Chương II: Tuyên uý / truyền giáo

Chương III: Tu sĩ nam và nữ

Chương IV: Các thẩm quyền Hội thánh

Chương V: Hội đồng Giám mục và các tổ chức tương ứng của các Giáo hội Công giáo Đông phương.

Chương VI: Hội đồng Giáo Hoàng về Mục vụ Chăm sóc Di dân và người Lữ hành.

 

 

Lời giới thiệu         

Ngày nay di dân đang trở thành một chuyển động dân chúng lớn nhất trong lịch sử mọi thời đại. Chỉ trong vài thập niên cuối này, hiện tượng đã chi phối khoảng 200 triệu người và đang trở thành một thực tế làm nên xã hội hiện đại. Di dân đang trở nên một vấn đề ngày càng phức tạp dưới các khía cạnh xã hội, văn hoá, chính trị, tôn giáo, kinh tế và mục vụ.

 

Do quan tâm tới những chuyển động di dân mới với các nét đặc thù của chúng, Huấn thị Erga migrantes caritas Christi mong muốn cập nhật việc mục vụ chăm sóc các di dân, 35 năm sau khi Đức Phaolô VI ban hành Tự săc Pastoralis migratorum và Bộ các Giám mục ban Huấn thịDe pastorali migratorum cura (Nemo est) liên quan.

 

Như vậy Huấn thị chính là lời giải đáp của Hội thánh cho các nhu cầu mục vụ mới của các di dân hầu giúp biến các kinh nghiệm di dân của họ, không những trở thành một dịp tăng trưởng đời sống Kitô hữu, mà còn là cơ hội cho việc phúc âm hoá và truyền giáo mới. Hơn nữa tài liệu còn nhằm ứng dụng chính xác các qui định trong bộ Giáo luật của Giáo hội La Tinh cũng như các Giáo luật của các Giáo hội Đông phương hầu đáp ứng hữu hiệu hơn các nhu cầu mục vụ của các giáo hữu di dân của các Giáo hội Đông phương, khi mà con số họ ngày một đông.

 

Thành phần di dân ngày nay cũng là một hiện tượng đòi phải có một tầm nhìn đại kết, bởi vì có nhiều di dân không hoàn toàn thông hiệp với Giáo hội Công giáo. Cũng có nhu cầu đối thoại liên tôn vì số di dân thuộc các tôn giáo khác, đặc biệt Hồi giáo, trong các quốc gia truyền thống công giáo, và ngược lại, ngày một gia tăng. Sau hết còn vì một nhu cầu thuần tuý mục vụ khác hết sức thiết yếu, đó là phát huy một hoạt động mục vụ vừa trung thành với truyền thống lại vừa rộng mở cho các phát triển mới. Điều này bao gồm cả các cơ cấu mục vụ thích hợp đảm bảo được sự hiệp thông giữa các nhân sự hoạt động trong lãnh vực di dân với phẩm trật địa phương của quốc gia tiếp nhận. Phẩm trật Giáo hội địa phương này vẫn tiếp tục là cơ quan quyết định các mối quan tâm Hội thánh dành cho di dân.

 

Tài liệu sau đó lược qua một số nguyên nhân gây ra hiện tượng di dân ngày nay (toàn cầu hoá; biến đổi dân số đặc biệt trong các quốc gia đã từng kỹ nghệ hoá; gia tăng cách biệt giữa các nước giầu – nghèo; lan rộng các cuộc chiến tranh cấp quốc gia và nội chiến). Tiếp đến tài liệu nêu rõ những khó khăn lớn mà phong trào di dân gây cho các cá nhân, đặc biệt phụ nữ và trẻ em, cũng như cho gia đình. Hiện tượng đó đặt ra vấn đề luân lý về việc thiết lập một trật tự kinh tế mới có khả năng phân bổ các tài nguyên thế giới cách đồng đều hơn, khi mà cộng đồng quốc tế được coi như một gia đình các dân tộc, trong đó mọi quan hệ phải được luật quốc tế điều hợp. Tài liệu tiếp tục giới thiệu một khung tham chiếu thánh kinh-thần học đặc sắc, đưa hiện tượng di dân vào trong lịch sử cứu độ, như một dấu chỉ thời đại về sự hiện diện của Thiên Chúa trong lịch sử và trong cộng đồng các dân tộc, hướng tới hiệp thông hoàn vũ.

 

Một tiểu luạn lịch sử ngắn chứng minh rằng Giáo hội đã từng quan tâm tới di dân và người di cư thông qua các văn kiện, từ Exsul Familia cho tới Công đồng Vatican I, Huấn thị De pastorali migratorum cura và các khoản Giáo luật tiếp theo… Tất cả biểu hiện rõ các quan điểm thần học và mục vụ quan trọng như : con người di dân phải là tâm điểm, và cần bảo vệ quyền lợi của ho; chiều kích giáo hội và truyền giáo của hiện tượng di dân; đánh giá các đóng góp mục vụ của tín hữu giáo dân, của các tổ chức Đời Thánh hiến và các Hiệp hội Đời Tông đồ; giá trị của văn hoá trong công tác phúc âm hoá; bảo vệ và coi trọng các nhóm thiểu số ngay trong Giáo hội địa phương; tầm quan trọng của đối thoại trong hội thánh vừa intra vừa extra(đối nội và đối ngoại); và… sự đóng góp độc đáo mà di dân có thể đóng góp cho nền hoà bình toàn cầu.

 

Tài liệu tiếp tục trình bày một số đề tài khác như nhu cầu “hội nhập văn hoá”; nhãn quan Hội thánh như hiệp thông - sứ mệnh - đoàn Dân Thiên Chúa; tầm quan trọng luôn mới mẻ của mục vụ chuyên biệt chăm sóc di dân; việc cam kết đối thoại/truyền giáo của mọi phần tử trong Nhiệm thể Đức Kitô; và bổn phận tiếp theo là tạo ra một nền văn hoá của đón tiếp và liên đới. Những điều trên đưa tới việc phân tích các vấn đề mục vụ đang đòi phải có giải đáp, đặc biệt đường hướng mục vụ đối với các di dân công giáo, cả Giáo hội Latinh lẫn nghi lễ Đông phương; di dân thuộc các giáo hội và công đoàn giáo hội khác; và các người theo các tôn giáo khác, đặc biệt Hồi giáo.

 

Sau đó tài liệu mô tả chi tiết… hoặc cho định nghĩa mục vụ-pháp lý về các cán sự mục vụ (như Tuyên uý/Truyền giáo và các vị Điều phối cấp quốc gia, linh mục địa phận, linh mục dòng, sư huynh và nữ tu, giáo dân, các hiệp hội giáo dân và các phong trào hội thánh). Việc dấn thân của họ được nhìn và đánh giá qua lăng kính của “mục vụ chăm sóc của hiệp thông”, một thứ mục vụ tổng hợp.

 

Một đặc điểm mục vụ quan trọng khác nữa được Tài liệu chỉ dẫn và đề xuất cho các Giáo hội địa phương là việc phối hợp các cơ cấu mục vụ (những gì đã được thiết lập và những gì sẽ được đề xuất), và Hội thánh rộng tay đón nhận các di dân vào việc chăm sóc mục vụ thông thường, trong khi vần hoàn toàn tôn trọng sự dị biệt hợp pháp cũng như di sản thiêng liêng và văn hoá của họ, hầu hướng tới việc hình thành một Giáo hội cụ thể là Công giáo. Một hoà hợp như thế sẽ là điều kiện cơ bản của mục vụ chăm sóc cho và với di dân, để trở thành một biểu hiện đầy ý nghĩa về một Hội thánh phổ quát và missio ad gentes (sứ vụ muôn dân); nơi gặp gỡ huynh đệ và an hoà; mái ấm của mọi người; ngôi trường của hiệp thông trong sự tiếp nhận và chia sẻ, về cuộc hoà giải được mong đợi và thực hiện; về tiếp đón và tương trợ lẫn nhau trong tình huynh đệ, cũng như của thăng tiến nhân bản và Kitô hữu chân chính.

 

Huấn thị kết thúc bằng việc cập nhật và chuẩn xác các “qui tắc pháp lý - mục vụ”. Bằng ngôn ngữ thích hợp, Huấn thị nhắc nhớ các bổn phận, trách nhiệm và vai trò của các cán sự mục vụ, của các cơ quan giáo hội khác nhau đảm nhiệm việc mục vụ chăm sóc di dân.

 

 Hồng Y Stephen Fumio Hamao: Chủ tịch

+ Agostino Marchetto, Tổng Giám mục Hiệu toà Astigi: Thư ký

 

 

NHẬP ĐỀ

Hiện Tượng Di Dân Ngày Nay

 

 

Thách đố của sự chuyển động con người

 

1. Chính tình yêu Đức Kitô dành cho di dân thôi thúc chúng ta (cf. Co 5:14), một lần nữa, phải nhìn vào các vấn đề của họ, những vấn đề mà hiện nay trên toàn thế giới đang phải đối mặt. Thực tế thì gần như tất cả mọi quốc gia đều phải đương đầu với  hiện tượng di dân đang bùng nổ dưới hình thức này hay hình thức khác. Nó ảnh hưởng tới đời sống xã hội, kinh tế, chính trị và tôn giáo của họ, đồng thời đang ngày càng trở thành một hiện tượng thường trực trong cấu trúc xã hội. Di dân thường được hình thành do quyết định tự do của chính các người di dân; công bằng mà nói thì thường không chỉ vì lý do tài chánh mà còn cả các yếu tố văn hoá, khoa hoc và kỹ thuật. Tự nó hầu như đó là chỉ dẫn rõ ràng nhất cho thấy có chênh lệch về xã hội, kinh tế và dân số trên một vùng, hoặc trên bình diện thế giới, điều đã ép buộc dân chúng phải di tán.

Chúng ta cũng có thể lần ra gốc rễ của hiện tượng này là tinh thần dân tộc cực đoan; và trong nhiều quốc gia thậm chí cả thù hận, và tiêu diệt cách tàn bạo, có hệ thống các nhóm chủng tộc và tôn giáo thiểu số khỏi xã hội. Điều này rất dễ nhận thấy trong các cuộc giao tranh dân sự, chính trị, sắc tộc và thậm chí tôn giáo đang bộc phát trên mọi châu lục. Những căng thẳng này làm cho làn sóng di cư dâng cao, thường thì vẫn hoà trộn với các nhóm di dân khác. Hậu quả rất dễ xảy ra trong các xã hội tiếp nhận, khi mà các nhóm sắc dân và dân chúng có ngôn ngữ và văn hoá khác nhau trà trộn lại thì nguy cơ chống đối nhau và đấu tranh sẽ rất cao.

 

2. Mặt khác di dân cũng giúp dân chúng hiểu biết nhau hơn, tạo điều kiện cho đối thoại, hiệp thông, thậm chí tới hoà hợp trên nhiều cấp độ. Đức Gioan Phaolô II đã nhắc tới điều này trong Thông điệp Ngày Thế giới Hoà bình năm 2001:” Trong trường hợp nhiều nền văn minh, di dân đã mang lại phát triển và phong phú mới. Trường hợp khác, dân địa phương và di dân tiếp tục khác nhau về văn hoá, nhưng cho thấy rằng họ vẫn có thể chung sống qua việc tôn trọng nhau, biết chấp nhận hoặc khoan nhượng đối với các khác biệt về phong hoá” (1).

 

3. Thách đố chúng ta phải đương đầu trong vấn đề di dân ngày nay thật không đễ dàng vì nó liên quan tới quá nhiều lãnh vực: kinh tế, xã hội, chính trị, y tế, văn hoá và an ninh. Mọi Kitô hữu đều phải chấp nhận giáp mặt thánh đố này. Đây không chỉ đơn thuần là công việc của thiện chí, hay dành cho một ít người có đặc sủng riêng.

 

Chúng ta cũng không được quên sự đáp ứng quảng đại của biết bao người nam nữ, các hiệp hội và các tổ chức, một khi nhìn thấy các đau khổ mà hiện tượng di dân mang lại cho biết bao người, đã lao vào cuộc đấu tranh bảo vệ quyền lợi của người di dân – bất luận tự nguyện hay bị ép buộc - và đứng lên bênh vực họ. Sự dấn thân của những người này trước hết phải được qui về lòng thương xót của Đức Giêsu, người Samari nhân hậu, về Chúa Thánh Thần đấng khích động lòng nhân nơi các người nam nữ đầy thiện chí ở bất cứ đâu, và trong Giáo hội, “làm sống lại một lần nữa mầu nhiệm của Thầy Chí thánh, mầu nhiệm của sự sống và sự chết” (2). Hơn nữa công tác Chúa trao cho Hội thánh loan báo Lời Chúa đã ngay từ đầu thắt chặt với lịch sử của các Kitô hữu di dân.

 

Do đó chúng ta nghĩ tới việc viết Huấn thị này. Mục đích trước hết của nó là đáp ứng các nhu cầu thiêng liêng và mục vụ của di dân và làn cho di dân ngày càng trở thành một dụng cụ của đối thoại và loan bào sứ điệp Kitô. Ngoài ra Tài liệu cũng giải đáp một số nghi vấn quan trọng hiện nay, bao gồm việc xác định tầm quan trọng của các qui định mới trong hai bộ Giáo luật hiện hành trong hai Giáo hội La tinh và các Giáo hội Công giáo Đông phương. Đồng thời cũng phải nhớ tới khía cạnh đại kết của hiện tượng, chính vì các Kitô hữu không hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội Công giáo hiện diện trong số các di dân, cũng như khía cạnh liên tôn, khi mà số di dân thuộc các tôn giáo khác, cách riêng Hồi giáo, ngày càng gia tăng. Sau hết  mục vu chăm sóc cũng phải rộng mở cho phát triển mới trong chính các cơ cấu mục vụ, trong khi vần bảo đảm được sự hiệp thông giữa các cán sự mục vụ hoạt động trong lãnh vực chuyên môn này và phẩm trật địa phương.

 

 Di dân quốc tế

4. Hiện tượng di dân ngày càng tăng hiện nay là một yếu tố quan trọng trong việc gia tăng ràng buộc giữa các quốc gia để hình thành cái gọi là toàn cầu hoá (3), điều được cho là mở toang các thị trường, nhưng không mở rộng các biên giới; xoá bỏ các lằn ranh cho thông tin và các nguồn vốn lưu thông, nhưng lại không cho phép con người tự do lưu thông cách tương ứng. Không một quốc gia nào thoát khỏi hậu quả của một hình thức di dân nào đó vì thường gắn liền với nhân tố tiêu cực, trong số đó phải kể tới việc thay đổi dân số xảy ra tại các quốc gia đã phát triển kỹ nghệ, việc gia tăng cách biệt giữa các quốc gia giầu nghèo, việc dựng lên các rào cản bảo hộ trong mậu dịch quốc tế không cho phép các quốc gia đang phát triển bán các sản phẩm của họ trên thị trường các nước phương tây theo giá cạnh tranh, và cuối cùng là việc lan rộng các cuộc nội chiến hay giao tranh. Các yếu tố trên chăc chắn sẽ gia tăng dòng chảy di dân trong những năm tới (cf. EEu 87, 115 và PaG 67), cho dầu nạn khủng bố xuất hiện trên sân khấu quốc tế có thể tạo nên phản ứng dựa vào lý do an ninh. Phản ứng này chắc chắn không khỏi ngăn trở phần nào sự di chuyển của các di dân đang ước mơ tìm được công ăn việc làm và an ninh trong các quốc gia được coi là giầu có, trong khi chính các nước này lại đang cần nhiều nhân lực hơn.

 

5. Vì thế không lạ gì di dân có nghĩa và vẫn còn có nghĩa là cơ cực và đau khổ lớn cho người di dân. Dầu vậy, đặc biệt trong thời gian gần đây và trong một số hoàn cảnh nào đó, di dân vẫn thường được cổ vũ và thúc đẩy để gia tăng phát triển kinh tế của các quốc gia tiếp nhận cũng như quốc gia xuất xứ (đặc biệt thông qua việc gởi kiều hối). Thực tế là nhiều quốc gia đã không thể đạt được tình trạng như họ có bây giờ nếu đã không có sự đóng góp của hàng triệu di dân.

 

Di dân của gia đình hạt nhân và của phụ nữ mang nét đau thương hơn. Nữ di dân ngày càng đông hơn. Họ thường được hợp đồng để làm công nhân không chuyên (hay nội trợ), và bị thuê mướn cách bất hợp pháp. Thường thì di dân bị tước đoạt hầu hết các nhân quyền tối thiểu nhất, kể cả việc tổ chức nghiệp đoàn lao động, dẫu rằng họ có chưa trở thành nạn nhân công khai của hiện tượng buôn người đáng buồn, hiện tượng không buông tha cả số phận các trẻ nít. Phải chăng đây là một chương sử mới của chế độ nô lệ!

 

Tuy nhiên, cho dầu chưa đi tới cực đoan như thế, ta vẫn luôn phải nhắc nhớ lại rằng: không bao giờ được coi công nhân nước ngoài đơn thuần như thể một món hàng hay nguồn nhân lực. Vì thế không được phép đối xử với họ như bất cứ một nhân tố sản xuất nào. Mỗi di dân phải được hưởng các quyền căn bản  và các quyền này phải được tôn trọng trong mọi trường hợp. Ngoài ra sự đóng góp của di dân cho nền kinh tế của nước tiếp nhận phải đi đôi với việc họ được dịp sử dụng trí thông minh và khả năng họ trong công việc của mình.

 

6. Liên quan tới vấn đề này, Hội nghị Quốc tế về Bảo vệ Quyền của mọi Công nhân Di dân và các Phần tử Gia đình họ đã thông qua một thủ bản các quyền(5) dành cho di dân khả năng có những đóng góp như thế, sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 07 2003, và được đức Gioan Phaolô II đặc biệt quan tâm đốc thúc (4). Điều mà Hội nghị tiên liệu đáng được các quốc gia  hưởng lợi nhiều từ di dân nhất thiết đem ra thi hành. Vì mục đích đó, Giáo hội khuyến khích việc phê chuẩn các luật quốc tế đảm bảo quyền của di dân, của người di cư và gia đình họ. Ngày nay hơn bao giờ hết, Giáo hội lên tiếng bênh vực di dân vì nhu cầu của họ, thông  qua các tổ chức và hiệp hội có uy tín (như các trung tâm đáp ứng nhu cầu di dân, các nhà mở, văn phòng phục vụ, làm hồ sơ và tham vấn, v.v.). Di dân thường là nạn nhân của tuyển mộ bất hợp pháp và hợp đồng ngắn hạn, được cung cấp điều kiện làm việc và sinh sống eo hẹp. Do đó họ thường phải chịu đựng những lạm dụng về thể lý, ngôn từ và cả tình dục nữa, phải làm việc nhiều giờ, không được hưởng chăm sóc y tế và không có tới bất cứ một dạng bảo hiểm xã hội thông thường nào.

 

Tình cảnh éo le của biết bao ngoại kiều, thay vì đánh động được tình liên đới của mọi người, thì ngược lại đã làm cho nhiều người sợ hãi. Họ cảm thấy di dân là một gánh nặng, nhìn họ với cặp mắt nghi ngờ, thậm chí còn coi như một hiềm hoạ và mối đe doạ. Điều này dễ làm nảy sinh các thái độ không khoan nhượng, bài ngoại và phân biệt chủng tộc.

 

7. ‘Người Hồi giáo, cũng như người theo các tôn giáo khác, đang gia tăng sự hiện diện của họ tại các quốc gia có truyền thống Kitô giáo’… điều này rơi vào một đề tài khác phức tạp hơn đó là sự gặp gỡ giữa các nền văn hoá và đối thoại liên tôn. Cũng có trường hợp số lượng lớn Kitô hữu có mặt trong các quốc gia mà dân chúng đa phần là Hồi giáo.

 

Để đối phó với hiện tượng di dân rông lớn này, về nhiều mặt ngày nay khác xa với thời xưa, thì bất cứ chính sách nào chỉ nằm trên tầm cỡ quốc gia sẽ ít có giá trị. Ngày nay không một nước nào có thể nghĩ tự mình giải quyết được các vấn đề của di dân. Còn nếu áp dụng các chính sách cấm đoán thì lại càng vô hiệu hơn, vì chỉ làm nảy sinh nhiều hậu qua tai hại khác như gia tăng nhập cư bất hợp pháp, hoặc thậm chí, khuyến khích hoạt động của các tổ chức tội phạm.

 

8. Vì vậy di dân quốc tế phải được coi như một yếu tố quan trọng làm nên thực thể xã hội, kinh tế và chính trị của thế giới hôm nay. Chính vì liên quan tới một con số quá lớn như vậy mà cần phải có sự hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia xuất phát và quốc gia tiếp nhận, cộng thêm các qui tắc đúng đắn có khả năng hoà hợp các qui định pháp lý khác nhau, mà mục đích phải là bảo vệ được nhu cầu và quyền lợi của ngưới di dân và gia đình họ, đồng thời cũng là quyền lợi của các xã hội tiếp nhận họ.

 

Tuy nhiên di dân cũng đồng thời đặt ra một vấn đề luân lý căn bản: tìm cho ra một trật tự kinh tế quốc tế mới hầu phân phối các tài nguyên thiên nhiên cách công bằng. Điều này sẽ góp phần vào việc làm giảm thiểu và kiểm soát được dòng chảy di dân đông đảo từ các cư dân đang gặp khó khăn. Từ đây ta thấy rõ nhu cầu phải có một nền giáo dục và hệ thống mục vụ hữu hiệu để giáo dục quần chúng về “chiều kích toàn cầu”, có nghĩa là một nhãn quan mới về cộng đồng thế giới, được coi như một gia đình các dân tộc mà mọi tài nguyên trái đất tối hậu phải phục vu, khi mà mọi sự đều được coi như của cải chung cho mọi người.

 

9. Xa hơn nữa di dân ngày nay đòi các Kitô hữu dấn mình vào một cuộc phúc âm hoá và liên đới mới, kêu gọi họ hãy nghiêm túc duyệt lại các giá trị cùng chia sẻ với các nhóm tôn giáo và dân sự khác, để đảm bảo cuộc chung sống hài hoà. Bước chuyển tiếp từ một xã hội đơn văn hoá qua một xã hội đa văn hoá có thể là một dấu chỉ Chúa hiện diện cách sống động trong lịch sử và trong cộng đồng nhân loại, bởi vì nó cống hiến cơ may để thực hiện kế hoạch của Thiên Chúa về một sự hiệp thông toàn cầu. Bối cảnh lịch sử mới mang đặc điểm của hàng ngàn khuôn mặt con người khác nhau, và không giống như trong quá khứ, khác biệt đã trở thành khá phổ biến tại nhiều quốc gia. Vì thế các Kitô hữu được kêu gọi làm chứng tá và thực hiện - không chỉ một tinh thần khoan nhượng mà tự nó đã là cả một bước tiến về mặt chính trị và văn hoá, và đương nhiên là tôn giáo nữa - nhưng còn là tôn trọng căn tính của kẻ khác. Bởi vậy nơi nào thuận tiện và thích hợp, họ rộng mở chia sẻ với các sắc dân, khác với họ về nguồn gốc và văn hoá, hầu “ kính cẩn công bố” niềm tin của mình. Tất cả chúng ta đều được mời gọi thực hiện một nền văn hoá liên đới, mà huấn quyền thường xuyên nhăc nhơ, để cùng nhau đạt tới một nền hiệp thông đích thực giữa người với người. Đây là con đường đầy chông gai mà Hội thánh mời gọi mọi  người cùng tiến bước.

 

 Di dân quốc nội

10. Thời gian gần đây ta cũng thấy tại nhiều quốc gia việc di dân quốc nội đang gia tăng đáng kể, đôi khi tự nguyện như từ vùng thôn quê ra thành phố, đôi khi bị ép buộc như trong trường hợp sơ tán hay những người trốn chạy khỏi nạn khủng bố, bạo hành hay buôn bán ma tuý, đặc biệt tại châu Phi và Mỹ Latinh. Người ta ước tính trên bình diện thế giới phần đa di dân ngày nay là trong nội bộ quốc gia, nhất là trường hợp di chuyển theo thời vụ.

 

Loại di chuyển này phần lớn bị phó mặc, do đó khuyến khích sự phát triển nhanh chóng và vô tổ chức các khu dân cư không chút chuẩn bị đón nhận một lượng người lớn như thế, và hình thành các khu nhà ổ chuột với các điều kiện sinh sống thật tệ hại cả về mặt xã hội lẫn luân lý. Di dân bị buộc phải định cư trong những môi trường rất khác lạ với quê quán gốc, vì thế sẽ phát sinh ra nhiều khó khăn và nguy cơ mất gốc về mặt xã hội, kéo theo các hậu quả nghiêm trọng đối với truyền thống tôn giáo và văn hoá cho đám người này.

 

Dẫu thế nhưng di dân quốc nội vẫn tiếp tục khơi nguồn hy vọng nơi hàng triệu con người, không may thường chỉ là ảo vọng thì đúng hơn: họ phải xa lìa gia đình và sống trong những nơi khác lạ về khí hậu cũng như truyền thống, cho dầu ngôn ngữ không thay đổi là mấy. Nếu các di dân này mai ngày phải trở về nơi họ xuất phát, họ sẽ mang theo một lối suy nghĩ khác, một lối sống khác, và cũng không hiếm một nhãn quan khác lạ về thế giới và tôn giáo… và một lối cư xử khác lạ. Đối với Hội thánh là Mẹ và Thầy thì đây quả là một thách đố mục vụ không nhỏ.

 

11. Cũng trong lãnh vực này, hoàn cảnh ngày nay đòi các cán sự mục vụ và các cộng đoàn tiếp nhận - nói chung là Giáo hội - phải hết lòng quan tâm tới “các người lữ hành”, và tới nhu cầu liên đới và kết thân của họ. Qua di dân quốc nội, Thần khí rõ ràng đang phát động một lời mời gọi khẩn cấp tới chúng ta hết thảy phải canh tân và gia tăng dấn thân phúc âm hoá và bác ái. Điều này đòi phải tìm cho ra các hình thức tiếp đón và hoạt động mục vụ được hoạch định chặt chẽ, liên tục và đồng bộ hầu thích ứng sát bao có thể với các hoàn cảnh thực tế và nhu cầu đặc biệt của di dân.

 

PHẦN I

DI DÂN, DẤU CHỈ THỜI ĐẠI VÀ MỐI QUAN TÂM CỦA HỘI THÁNH

 

 Di dân dưới con mắt đức tin

12. Nơi người di dân Hội thánh luôn chiêm ngắm hình ảnh đức Kitô, đấng đã nói “Ta là khách lạ và ngươi đón tiếp ta” (Mt 25:35). Vì thế hoàn cảnh của di dân thách đố niền tin và đức ái của các tín hữu và mời gọi họ hãy hàn gắn vết thương đau và khám phá ra trong đó kế hoạch Thiên Chúa đang muốn vạch ra, ngay cả khi nguyên nhân lại rõ ràng là các bất công. Di dân kết hợp rất nhiều yếu tố của gia đình nhân loại và vì thế dẫn tới việc xây dựng một xã hội ngày càng rộng lớn và đa diện hơn, hầu như muốn kéo dài cuộc gặp gỡ giữa các dân nước và chủng tộc, để nhờ hồng ân của Thần khí ngày Hiện xuống, trở thành tình huynh đệ hội thánh.

 

Nếu, một mặt di dân dẫn theo đau khổ, không khác gì cơn đau thắt của việc sinh hạ một nhân loại mới, thì mặt khác sự bất bình đẳng và chênh lệch đàng sau những đau khổ đó cho thấy vết thương hằn sâu mà tôi lỗi đã gây ra trong gia đình nhân loại. Do đó di dân là tiếng kêu gào phải khẩn trương xây dựng một tình huynh đệ đích thực.

 

13. Nhãn quan này giúp ta hiểu được sự kiện di dân dưới ánh sáng của các biến cố Kinh thánh đã đánh dấu các chặng đường của cuộc hành trình gian khổ dẫn nhân loại tới việc khai sinh một dân tộc không còn kỳ thị hay ranh giới, là kho lưu giữ quà tặng của Thiên Chúa cho mọi dân nước, và mở rộng tới ơn gọi vĩnh cửu của con người. Đức tin nhận ra nơi di dân cuộc hành trình của các Tổ phụ, dựa vào lời hứa, đang di chuyển tới đất tổ tương lai, và dân Hipri sau khi thoát khỏi kiếp nô lệ, hành trình Exodus vượt qua Biển Đỏ để trở thành Dân của Giao ước. Hơn nữa, đức tin nhìn thấy nơi di dân một cuộc lưu đầy, trong đó mọi mục tiêu đạt được thực tế chỉ là tương đối. Qua di dân đức tin lại tái khám phá sứ điệp phổ quát của các tiên tri khi các ngài tố cáo kỳ thị, áp bức, lưu đầy, phân tán và bắt bớ như chống lại kế hoạch của Thiên Chúa. Đồng thời các ngài công bố ơn cứu độ cho mọi người, chứng minh rằng ngay giữa các biến cố hỗn loạn và nghịch lý nhất của lịch sử nhân loại, Thiên Chúa vẫn tiếp tục thực hiện kế hoạch cứu độ của ngài cho tới khi vạn vật được qui kết về Đức Kitô (cf. Ep 1:10).

 

 Di dân và Lịch sử Cứu độ

14. Như thế chúng ta có thể coi hiện tượng di dân hiện nay là một “dấu chỉ thời đại” đầy ý nghĩa, là một thách đố cần khám phá và sử dụng trong công tác canh tân nhân loại và loan báo tin mừng bình an.

 

Thánh kinh chỉ cho chúng ta thấy rõ ý nghĩa những điều này. Dân Israen có nguồn gốc từ một Abraham vâng nghe lời mời của Chúa. Ngài đã lìa bỏ quê quán để đi tới một miền đất lạ, mang theo duy nhất lời Chúa hứa sẽ trở thành cha của một “dân vĩ đại” (ST 12:1-2). Giacop, ngườiAram phiêu bạt, “đã trẩy đi Ai Cập với một gia đình bé nhỏ và sống ở đó như một ngoại kiều. Nhưng cũng chính tại đó mà ông trở thành một dân tộc đông đúc, hùng mạnh và vĩ đại” (DNL26:5). Sau thời gian dài sống kiếp nô lệ bên Ai Cập, Israen đã nhận được sắc phong làm “Dân của Chúa” trong cuộc Exodus kéo dài 40 năm trong sa mạc. Thử thách gian khổ kiếp di dân và lưu đầy trở thành nền tảng lịch sử của dân được tuyển chọn hầu trở thành ơn cứu độ cho mọi dân nước: Israen hiểu ra điều này khi từ kiếp lưu đày trở về (cf. Is.42:6-7; 49:5). Ghi nhớ những điều này Israen canh tân lòng tín thác nơi Chúa, cả trong những lúc đen tối nhất của lịch sử (TV105 [104]: 12-15; TV 106 [105]: 45-47). Liên quan tới các ngoại kiều sống trong sứ sở, luật buộc Israen phải áp dụng cho họ cùng những giới luật áp dụng cho “con cái của dân mình” (Lv19:18) có nghĩa là “ngươi phải … yêu họ như chính mình” (Lv 19:34).

 

 Đức Kitô “ngoại kiều” và đức Maria, biểu tượng sống của di dân

15. Nơi ngoại kiều, Kitô hữu không chỉ nhìn thấy một cận nhân mà còn là chính gương mặt Đức Kitô, đấng sinh ra trong máng cỏ, lẩn trốn qua Ai Cập và ở đó sống như ngoại kiều, hầu thâu tóm và lặp lại nơi đời mình kinh nghiệm căn bản của dân ngài (cf. Mt 2:13tt). Sinh ra đã xa nhà và trở về từ miền đất lạ (cf. Lc 2:4-7), “ngài tới cư ngụ giữa chúng ta” (cf. Ga 1:11,14) và sống đời công khai trong di chuyển từ làng này qua thành khác (cf. Lc 13:22; Mt 9:35). Sau khi sống lại, vẫn với tư cách một ngoại kiều ít quen biết, ngài hiện ra với hai môn đệ trên đường Emaus, để rồi họ chỉ nhận biết ngài qua việc bẻ bánh (cf. Lc 24:35). Như thế Kitô hữu là môn đồ của một người luôn di chuyển “không có lấy hòn đá gối đầu” (Mt 8:20; Lc 9:58) (8).

 

Cũng vậy, đức Maria, Mẹ của Đức Giêsu cũng có thể được chiêm ngắm như biểu tượng sống của một người nữ di dân (9). Mẹ sinh con xa nhà (cf. Lc 2:1-7) và buộc phải trốn chạy qua Ai Cập (cf. Mt 2:13-14). Đạo đức bình dân thật có lý khi gọi Mẹ là Đức Mẹ Lữ hành.

 

 Hội thánh của ngày Hiện xuống

16. Khi chiêm ngắm Hội thánh, chúng ta thấy Hội Thánh được khai sinh vào ngày lễ Ngũ tuần để hoàn tất mầu Vượt qua. Đó thật sự là cuộc hội tụ các dân nước, vừa biểu tượng lại vừa rất thực tại, tới nỗi sau này Phaolô đã công bố “không còn phân biệt Hy Lạp hay Do Thái, cắt bì hay không cắt bì, man ri, mọi rợ, nô lệ hay tự do” (Cl 3:11). Bởi vì quả thật Đức Kitô “đã liên kết đôi bên thành một và đã phá đổ bước tường ngăn cách” (Ep 2:14).

 

Theo Đức Kitô có nghĩa là dõi theo bước ngài để trở thành quá cảnh trong thế giới, bởi vì “trên đời này chúng ta không có thành trì bền vững” (DT 13:14). Tín hữu luôn mãi là paroikos, người tạm cư, khách trọ ở bất cứ đâu (cf. 1Pr 1:1; 2:11; Ga 17:14-16). Điều đó có nghĩa là đối với Kitô hữu nơi chốn cư trú không thạt sự quan trọng, (10), trong khi tính hiếu khách lại phải là điều tự nhiên nơi họ. Các tông đồ nhấn mạnh điểm này (cf. Rm 12:13; DT 13:2; 1Pr 4:9; 3Ga 5), và các thư mục vụ đặc biệt đòi hỏi nơi các episkopos (cf. 1Tm 3:2; Tt 1:8). Thời Giáo hội sơ khai, hiếu khách là thái độ mà mỗi Kitô hữu phải có đối với các nhà truyền giáo lưu động, các người lãnh đạo tôn giáo bị lưu dầy hay đang hành trình, và với các phần tử nghèo của các cọng đoàn khác (11).

 

17. Ngoại kiều cũng được coi như dấu chỉ hữu hiệu nhắc nhở về tính phổ quát, một yếu tố hình thành nên Giáo hội Công giáo. Thị kiến của Isaia đã loan báo điều đó “Trong tương lai, núi Nhà Đức Chúa đứng kiên cường vượt đỉnh các non cao … Dân dân sẽ lũ lượt đưa nhau tới” (Is2:2). Trong phúc âm, chính Chúa đã tiên báo rằng “Thiên hạ sẽ từ đông chí tây, bắc chí nam đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa” (Lc 13:29), và sách Khải huyền cho thấy “một đoàn người thật đông… thuộc mọi dân, mọi nước, bộ tộc và ngôn ngữ” (KH 7:9). Hội thánh đang khó nhọc tiến bước tới cái đích cuối cùng đó (12); di dân ngày nay có thể gợi chúng ta nhớ tới “đoàn người thật đông” và là lời mời gọi cũng như phác hoạ cuộc hội tụ của toàn nhân loại với Chúa và trong Chúa.

 

18. Như thế cuộc hành trình di dân có thể trở nên dấu chỉ sống động của ơn gọi vĩnh cửu, không ngừng thôi thúc niềm hy vọng hướng tới một tương lai xa hơn cả thế giới hiện tại, gợi lên lý tưởng biến đổi thế giới bằng tình yêu và chiến thắng tối hậu. Các đặc tính riêng của di dân kêu mời chúng ta sống trở lại tình huynh đệ của ngày Hiện xuống, khi các dị biệt được Chúa Thánh Thần hoà hợp lại và đức ái trở thành chân chính qua việc chấp nhận lẫn nhau. Kinh nghiệm di dân như thế sẽ loan báo mầu nhiệm Vượt qua, khi mà sự chết và phục sinh xây dựng một nhân loại mới trong đó không còn có nô lệ hay ngoại kiều (cfr. Gl 3:28).

 

 Giáo hội chăm sóc di dân và người di cư

19. Di dân trong thế kỷ qua đã cả là một thách đố đối với việc chăm sóc mục vụ của Giáo hội, thường được tổ chức dựa trên nền tảng giáo xứ đối địa ổn định. Trước kia thành phần giáo sỹ vẫn thường tháp tùng các đoàn xuất dương đi khai phá các miền đất mới. Kể từ hậu bán thế kỷ 19 trở đi mục vụ chăm sóc di dân ngày càng được uỷ thác cho các Hội dòng Truyền giáo (13).

 

Rồi tới năm 1914 Sắc lệnh Ethnografica studia (14) lần đầu tiên bàn về vấn đề giáo sỹ tham gia việc chăm sóc di dân. Sắc lệnh nhấn mạnh tới trách nhiệm của Giáo hội địa phương nâng đỡ di dân và khuyên hàng giáo sỹ địa phương phải được chuẩn bị thích hợp cho công tác này, cả về ngôn ngữ, văn hoá và mục vụ. Ít lâu sau, theo sau việc ban hành bộ Giáo luật, Sắc lệnhMagni semper năm 1915 trao cho Bộ Giám mục thẩm quyền cho phép giáo sỹ chăm sóc di dân.

 

Sau đệ nhị Thế chiến hiện tượng di dân càng trở nên trầm trọng hơn, không những vì do chiến tranh tàn phá, mà còn vì tính tồi tệ của hiện tượng di cư (đặc biệt từ các quốc gia Đông Au), rất nhiều người trong số họ thuộc các Giáo hội Công giáo Đông phương.

 

Exsul Familia

20. Vào thời điểm đó mọi người đều nhận thấy cần phải có một tài liệu tổng hợp được tất cả các luật lệ và qui định trước đây, đồng thời trình bày được các đường hướng mục vụ di dân một cách có hệ thống. Điều này đã được đáp ứng vào ngày 01 tháng 8 năm 1952 khi đức Piô XII ban Tông Huấn Exsul Familia (16), một magna charta của suy tư Giáo hội về di dân. Đây là tài liệu chính thức đầu tiên của Toà thánh phác hoạ việc chăm sóc mục vụ di dân cách có hệ thống và bao quát, cả về khía cạnh lịch sử lẫn giáo luật. Tông huấn, sau khi phân tích sâu rộng lịch sử, đã trình bày cách chi tiết các qui định. Tông huấn xác định trách nhiệm hàng đầu về mục vụ chăm sóc di dân thuộc về các giám mục giáo phận địa phương, cho dầu tổ chức thực tế vẫn còn nằm trong tay của Bộ Giám mục.

 

 Công Đồng chung Vatican II

21.  Sau này Công đồng Vatican II đã soạn các hướng dẫn quan trọng cho việc mục vụ chuyên biệt này. CĐ đặc biệt kêu gọi các Kitô hữu hãy ý thức về hiện tượng di dân (cf. GS 65 và 66), và nhận ra các tác động của nó trên đời sống. CĐ tái khảng định quyền được di dân (cf. GS 65) (17), phẩm giá của người di dân (sf. GS 66), nhu cầu phải vượt thắng chênh lệch kinh tế và phát triển xã hội (cf. GS 63), và tìm ra giải đáp thoả đáng cho các nhu cầu chính đáng của con người (cf. GS 84). Đàng khác CĐ cũng nhìn nhận quyền hạn của công quyền, trong một bối cảnh nào đó, phải điều tiết dòng chảy di dân (cf. GS 87).

 

CĐ tuyên bố Dân Chúa phải đóng góp quảng đại vào thực tại di dân, kêu gọi cách riêng giáo dân hãy rộng tay cộng tác với với mọi bộ phận xã hội (cf. AA 10) và trở thành “cận nhân” đối với di dân (cf. GS 27). Các nghị phụ cũng tỏ mối quan tâm đặc biệt đối với các tín hữu “ mà vì hoàn cảnh sinh sống của họ, không hưởng được đầy đủ sự chăm sóc mục vụ chung và thường xuyên của cha xứ, thậm chí thiếu hẳn sự chăm sóc đó, chẳng hạn đa số những người di dân, dân lưu đày, tị nạn, những người đi biển cũng như các nhân viên phi hành, dân du mục và những hạng người như thế. Cần phải cổ suý các phương pháp mục vụ thích hợp để nâng đỡ đời sống thiêng liêng của những người vì lý do nghỉ ngơi tìm đến các xứ khác trong một thời gian. Các Hội đồng Giám mục, nhất là các Hội đồng Giám mục Quốc gia, cần phải nghiên cứu các vấn đề khá cấp bách liên hệ đến những hạng người kể trên. Nhờ các phương tiện cũng như các tổ chức thích hợp, các ngài hãy đồng tâm hiệp lực lo lắng và hỗ trợ việc thiêng liêng cho họ, bằng cách vừa lưu tâm đến các luật đặc biệt đã được Toà thánh qui định hay sẽ ban hành, vừa thích nghi với các hoàn cảnh về thời gian, nơi chốn và nhân sự” (CD 18).

 

22. Như thế CĐ Vatican II đã là cột mốc đáng nhớ của mục vụ chăm sóc di dân và người lữ hành, khi nêu lên ý nghĩa quan trọng đặc biệt của tính di chuyển và công giáo, của các Giáo hội địa phương, nhận thức về giáo xứ, và nhãn quan Hội thánh như mầu nhiệm hiệp thông. Như thế Hội thánh được nổi bật như một “đoàn dân được hiệp nhất trong Chúa Cha, Con và Thánh Thần hiệp nhất” (LG 4) và có thể tự giới thiệu mình là như thế.

 

Tiếp đón khách lạ, một đặc điểm của Giáo hội sơ khai, vì thế phải tồn tại như một yếu tố trường tồn trong Hội thánh của Chúa. Dấu ấn cụ thể của Hội thánh là lưu đày, là xa xứ, là phân tán giữa các nền văn hoá và chủng tộc mà không bao giờ tự đồng hoá mình trọn vẹn với bất cứ cái nào. Nếu không Hội thánh sẽ không còn là hoa trái đầu mùa và dấu chỉ, men và ngôn sứ về một Vương quốc hoàn vũ, một cộng đoàn đón tiếp tất cả mọi con người không phân biệt dân nước. Tiếp đón khách lạ do đó trở thành cốt lõi trong bản chất của Hội thánh và minh chứng cho lòng trung thành với Tin mừng (19).

 

23. Để trung thành và triển khai giáo huấn của CĐ, đức Phaolô VI đã ban hành Tự sắcPastoralis Migratorum Cura vào năm 1969 (20) và công bố Huấn thị De Pastorali Migratorum Cura (21). Sau đó vào năm 1970 Uỷ ban Giáo hoàng về Mục vu Chăm sóc Di dân và Du lịch, cơ quan thời đó trách nhiệm về mục vụ di dân, gởi tới các Hội đồng Giám mục một thư ngỏ mang tựa đề “Giáo hội và con người di chuyển” (22), trong đó tường trình rất cập nhật về di dân thời đó, giải thích rất rõ ràng và chỉ dẫn các ứng dụng mục vụ. Tài liệu đề cấp tới đề tài Giáo hội địa phương tiếp đón di dân, nhấn mạnh nhu cầu cộng tác liên giáo hội để đảm bảo việc chăm sóc mục vụ phi biên giới. Sau hết tài liệu còn nhìn nhận và lưu ý tới vai trò chuyên biệt của giáo dân và tu sĩ nam nữ.

 

Các qui định của Giáo luật

24. Bộ Giáo luật mới của Giáo hội Latinh, khi khảng định và thể hiện các ước muốn của CĐ, đã đòi các linh mục quản xứ phải đặc biệt quan tâm tới những người sống xa quê hương (Can. 529, *1) và mong muốn cũng như đòi hỏi, khi có thể được, dàn xếp để có mục vụ riêng chăm sóc cho họ (Can. 568). Thống nhất với Giáo luật của các Giáo hội Đông phương, CIC tiên liệu việc thành lập các giáo xứ tòng nhân (CIC Can. 518 và CCEO Can. 280, *1), cũng như các điểm chăm sóc thiêng liêng giáo dân (Can. 516) và ngay cả việc thiết lập các diện mạo mục vụ chuyên biệt như đặc trách giáo phận (Can. 476) và tuyên uý di dân (Can 568).

 

Và cũng để triển khai các quyết định của CĐ (cf. PO 10; AG 20, ghi chú 4; AG 27, ghi chú 28), Giáo luật mới cũng tiên liệu việc thiết lập các tổ chức mục vụ chuyên biệt khác nữa theo như luật pháp và thực hành của Giáo hội cho phép (23).

 

25. Nhiều tín hữu thuộc các Giáo hội Công giáo Đông phương từ Á châu, Trung đông, từ Trung và Đông Au di chuyển tới các quốc gia Tây Âu với số lượng lớn. Điều này rõ ràng đặt ra vấn đề mục vụ chăm sóc họ, thông thường thì vẫn dưới trách nhiệm chính của đấng bản quyền nơi tiếp nhận họ. Vì thế cần lập tức duyệt xét lại những hậu quả mục vụ và luật pháp ảnh hưởng tới số lượng ngày càng lớn các tín hữu sống xa lìa các địa sở truyền thống của họ. Cũng phải duyệt lại các liên hệ ở mọi cấp, chính thức hay riêng tư, giữa các cộng đoàn với nhau hay giữa các phần tử của cộng đoàn. Các luật lệ và qui định về công việc này được tìm thấy trong CCEO (25), có thể nói: cho phép Giáo hội Công giáo được thở bằng cả hai buồng phổi (24).

 

26. Bộ Giáo luật được đề cập tới ở trên cũng tiên liệu việc thành lập các Giáo xứ sui iuris (CCEO Can. 27, 28 và 148), kêu gọi cử hành và cổ võ “nghi lễ của các Giáo hội Đông phương như di sản của Hội thánh Đức Kitô hoàn vũ” (Can. 39; cũng cf. Can. 40 và 41) và ấn định các qui tắc cụ thể liên quan tới luật phụng vụ và kỷ luật (Can. 150). CCEO cũng đòi các thượng phụ phải quan tâm tới giáo dân Kitô “ở bất kỳ tuổi tác, điều kiện, quốc gia hay giáo xứ sui iuris nào, có cư trú vĩnh viễn hay chỉ tạm cư trong giáo phận” (Can. 192, *1), và phải đảm bảo các giáo dân Kitô thuộc một Giáo hội sui iuris khác, dưới sự chăm sóc của các ngài, “bảo toàn được nghi lễ riêng của Giáo hội họ” (Can. 193, *2). Cuối cùng CCEO ấn định giáo xứ phải là đối địa tuy không loại bỏ các giáo xứ tòng nhân nều hoàn cảnh đòi hỏi (cf. Can. 280, *1).

 

Bộ Giáo luật của các Giáo hội Đông phương còn mở ra khả thể thành lập giáo phận tòng nhân (exarchate), được định nghĩa là “một phần Dân Chúa mà vì một hoàn cảnh đặc biệt không thể thiết lập một giáo khu, được giới hạn trong một địa giới và theo một số tiêu chuẩn nào đó, họ được uỷ thác cho một giám mục (exarch) chăm sóc mục vụ” (CCEO Can. 311, *1).

 

 Đường hướng mục vụ của Huấn quyền

27. Không chỉ những qui định của giáo luật, mà nếu học hỏi cách nghiêm túc các tài liệu và hướng dẫn về di dân đã được Giáo hội ban hành cho đến nay, ta sẽ thấy sáng tỏ những khám phá thần học và mục vụ quan trọng tới nay đã đạt được. Đó là: vị trí trung tâm của con người và việc bảo vệ quyền của người di dân, bất luận nam nữ, và con cái họ; chiều kích giáo hội và truyền giáo của di dân; giá trị của việc tông đồ giáo dân; giá trị của văn hoá trong công tác phúc âm hoá; bảo vệ và tôn trọng các nhóm thiểu số trong Giáo hội; tầm quan trọng của việc đối thoại trong và ngoài Giáo hội; đóng góp độc đáo của di dân cho nền hoà bình thế giới. Các tài liệu này cũng nói lên chiều kích mục vụ trong công tác phục vụ di dân. Thực vậy mọi người đều phải tìm thấy ‘quê hương của mình” (26) ngay trong lòng Giáo hội, bởi vì Giáo hội là mầu nhiệm Thiên Chúa ở giữa con người, mầu nhiệm tình yêu mà Người Con duy nhất đã tỏ lộ đặc biệt qua cái chết và phục sinh của ngài, để cho mọi người “được sống, và sống dồi dào” (Ga10:10), hầu mọi người nhận được sức mạnh vượt thắng mọi chia rẽ, và hành động sao cho các khác biệt không còn tạo phân cách, mà là hiệp thông, qua việc tiếp nhận kẻ khác trong chính sự di biệt hợp pháp của họ.

 

28. Giáo hội tích cực đánh giá vai trò của các Hội dòng Đời Thánh hiến và Hiệp hội Đời Tông đồ trong các đóng góp chuyên biệt vào mục vụ chăm sóc di dân (27). Trách nhiệm của giám mục giáo phận về diện này cũng được khảng định, cả đối với Giáo hội gốc cũng như Giáo hội nơi đến. Trong trách nhiệm này cũng có vai trò của Hội đồng Giám mục quốc gia và cơ cấu tương đương của các Giáo hội Đông phương. Mục vụ di dân có nghĩa là đón tiếp, tôn trọng, bảo vệ, phát huy và chân thành yêu thương từng người một trong các biểu hiện tôn giáo và văn hoá của họ.

 

29. Những tuyên bố mới gần đây nhất của Giáo hoàng cũng đã nhấn mạnh và mở rộng thêm tầm nhìn cũng như nhãn quan mục vụ về di dân, phù hợp với định hướng: con người là con đường của Hội thánh (28). Kể từ triều đại đức Phaolô VI và gần đây đức Gioan Phaolô II, đặc biệt thông qua các Sứ diệp Ngày Quốc tế Di dân và Di cư (29), Giáo hội không ngừng khảng định các quyền căn bản của con người, nhất là quyền được di dân, hầu các cá nhân có thể phát huy hết khả năng, khát vọng và kế hoạch của mình (30). (Tuy nhiên cũng xác định trong cùng văn mạch quyền của các quốc gia  theo đuổi chính sách di dân của mình vì công ích). Quyền cá nhân không di dân cũng được khảng định, có nghĩa là quyền đạt được các quyền lợi và thoả mãn các yêu cầu chính đáng ngay tại quốc gia của mình. (31)

 

Huấn quyền cũng đồng thời luôn tố cáo sự mất cân bằng xã hội và kinh tế là nguyên nhân chính của di dân, các nguy cơ về một nền toàn cầu hoá phi kiểm soát trong đó người di dân trở thành nạn nhân hơn là tác nhân của việc di dân của họ, vấn đề nghiêm trọng của di dân bất hợp pháp, đặc biệt khi di dân trở thành đối tượng của nạn buôn người và bóc lột của các tổ chức tội phạm (32)

 

30. Huấn quyền cũng nhấn mạnh nhu cầu phải có các chính sách hữu hiệu bảo đảm các quyền của di dân: “hết sức tránh bất kỳ hình thức kỳ thị nào” (33); nêu lên một loạt các giá trị và cách cư sử (hiếu khách, liên đới, chia sẻ); và về phía các cộng đoàn tiếp nhận: cần loại bỏ mọi tình cảm và biểu hiện của tinh thần bài ngoại, phân biệt chủng tộc (34). Trong bối cảnh của luật pháp lẫn thủ tục hành chánh của nhiều quốc gia, huấn quyền lưu ý nhiều tới đoàn tụ gia đình và bảo vệ trẻ vị thành niên, mà vì di dân, rất dễ gặp hiểm nghèo (35), và tới việc hình thành, chính nhờ di dân, các cộng đoàn đa văn hoá.

 

Tính đa diện về văn hoá mời gọi con người hiện đại thực hành đối thoại và đối diện với các vấn nạn căn bản như ý nghĩa của sự sống và lịch sử, đau khổ và nghèo đói, bệnh tất và chết chóc. Tuy nhiên mở ra đón nhận các nền văn hoá không có nghĩa là chấp nhận cách bừa bãi, nhưng là tôn trọng vì văn hoá vốn gắn liền với con người; và nếu được, đánh giá văn hoá trong chính sự khác biệt của chúng. Tính “tương đối” của văn hoá cũng đã được CĐ Vatican II nhấn mạnh (cf. GS 54, 55, 56, 58). Đa diện là một kho báu và đối thoại là chuyển mình từ tình trạng còn bất toàn tiến tới thực hiện sự hiệp nhất tối hậu mà toàn nhân loại được kệu gọi hướng tới.

 

 Các cơ quan Toà thánh

31. Mối quan tâm của Giáo hội đến việc chăm sóc tôn giáo, xã hội và văn hoá dành cho di dân được biểu lộ qua Huấn quyền thì cũng tương tự biểu lộ qua các cơ quan chuyên biệt được Toà thánh thiết lập nhằm mục tiêu này.

 

Nguồn gốc của cảm hứng này được tìm thấy trong bản ghi nhớ Pro emigratis catholicis của Chân phước Gioan Battista Scalabrini. Do nhận thức được các khó khăn mà các khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa đang dấy lên ở hải ngoại, ngài đã đề nghị Toà thánh lập một Bộ (hay Uỷ ban) Giáo hoàng về các di dân công giáo. Uỷ ban này sẽ gồm đại diện của nhiều quốc gia với mục đích “nâng đỡ thiêng liêng các di dân trong nhiều tình huống và giai đoạn của hiện tượng này, đặc biệt tại Châu Mỹ, hầu giúp họ giữ vững đức tin trong tâm hồn mình” (36)

 

Dần dần sáng kiến của ngài thành hình. Năm 1912, theo sau cuộc cải cách Giáo triều Rôma của đức Piô X, ‘Văn phòng về Vấn đề Di dân’ đầu tiên được thành lập nằm trong Bộ Giám mục. Tới năm 1970 đức Phaolô VI thiết lập ‘Uỷ ban Giáo hoàng về Mục vụ Chăm sóc Di dân và Du lịch’, rồi năm 1988 với Tông huấn Pastor Bonus biến thành ‘Hội đồng Giáo hoàng về Mục vụ Chăm sóc Di dân và người Lữ hành’. Hội đồng này được trao nhiệm vụ chăm sóc tất cả những ai bị buộc lìa bỏ quê hương, cũng như các người không có quê hương (di cư và lưu đày), các di dân, du mục, dân làm xiếc, viễn dương cả trên bến cảng lẫn trên tầu, tất cả những ai xa nhà, những người làm việc tại các sân bay và trên máy bay. (37).

 

32. Như vậy nhiệm vụ của Hội đồng Giáo hoàng là thúc đẩy, cổ võ và sinh động các sáng kiến mục vụ thích hợp hầu giúp cho những ai, vì lựa chọn hoặc vì nhu cầu, phải xa lìa nơi cư trú bình thường của họ. HĐ này cũng cẩn thận theo dõi các vấn đề xã hội, kinh tế và văn hoá mà thường là nguyên nhân của những chuyển động đó.

 

Hội đồng Giáo hoàng đối tác trực tiếp với các Hội đồng Giám mục và các Uỷ ban liên quan, với các tổ chức cấp giám mục tương ứng trong các Giáo hội Công giáo Đông phương, cũng như với cá nhân các Giám mục và hàng giáo phẩm. Trong khi vẫn tôn trọng trách nhiệm của từng vị, HĐ đốc thúc các vị thi hành mục vụ chuyên biệt chăm sóc những con người có liên quan đến hiện tượng nhân loại chuyển dịch này đang ngày càng lan rộng; và áp dụng các biện pháp thích hợp tuỳ tình hình chuyển biến.

 

Trong thời gian gần đây, khía cạnh di dân cũng đã trở thành một phần của quan hệ đại kết, với kết quả là các giao tiếp với các Giáo hội và cộng đoàn tôn giáo khác ngày một gia tăng. Do đó cũng cần quan tâm tới đối thoại liên tôn. Sau cùng đôi khi các vị lãnh đạo và nhân viên Hội đồng Giáo hoàng cũng đại diện Toà thánh tham dự diễn đàn quốc tế tại các hội nghi của các tổ chức đa phương.

 

33. Trong số các tổ chức Công giáo chính phục vụ di dân và di cư, ta không thể không đề cập tới Uỷ ban Công giáo Quốc tế về Di dân (ICMC) được thành lập năm 1951. Trong 50 năm đầu Uỷ ban đã có công rất lớn trong việc, với tinh thần Ki-tô hữu và với những đóng góp độc đáo, đã trợ giúp các chính phủ và các tổ chức quốc tế kiếm tìm giải pháp bền lâu cho các di dân và người di cư trên thế giới. Việc phục vụ mà Uỷ ban đã cống hiến trong quá khứ, và còn trong hiện tại, “được cột chặt vào hai lòng trung thành: với Đức Kitô và với Giáo Hội”, như đức Gioan Phaolô II đã từng tuyên bố (38), và công việc của họ “đã thể hiện được sự cộng tác đại kết và liên tôn đầy hiệu quả” (39).

 

Sau hết chúng ta cũng không thể quên sự dấn thân quan trọng của các tổ chức Caritas và các tổ chức bác ái và liên đới khác tương tự trong việc phục vụ các di dân và người di cư.

 

  PHẦN II

DI DÂN VÀ VIỆC CHĂM SÓC MỤC VỤ TIẾP ĐÓN

 

Hội nhập văn hoá, đa diện về văn hoá và tôn giáo

 

34. Hội thánh là bí tích hiệp nhất, vượt thắng mọi thứ rào cản của ý thức hệ và chủng tộc, công bố cho mọi dân nước và mọi nền văn hoá nhu cầu phải cố đạt cho được chân lý, trong viễn tượng thẳng thắn giáp mặt với các dị biệt bằng đối thoại và chấp nhận lẫn nhau. Như thế những căn tính văn hoá khác biệt sẽ mở rộng con đường hoàn vũ để hiểu biết lẫn nhau; tuy vẫn không hề loại bỏ các yếu tố tích cực riêng, nhưng đặt chúng trong tư thế phục vụ toàn thể nhân loại. Lối suy nghĩ này phải thấm nhuần vào mỗi Giáo hội địa phương, soi sáng và biểu lộ sự hiệp nhất trong đa diện đã từng được chiêm ngắm nơi Ba Ngôi Thiên Chúa, là mầu nhiệm diễn tả sự hiệp nhất trọn vẹn của mọi người, hướng tới sự sung mãn của đời sống từng cá nhân.

 

Tình trạng văn hoá hiện nay rất năng động và toàn cầu, đòi một đức tin duy nhất phải được nhập thể trong nhiều nền văn hoá. Đấy chính là một thách đố chưa từng có, một kairos đích thực cho toàn thể Dân Thiên Chúa (cf. EEu 58).

 

35. Chúng ta hiện đang phải đối mặt với tính đa diện về văn hoá và tôn giáo có lẽ chưa từng nghiệm thấy rõ ràng như thế trước đây. Một đàng ta đang nhanh chóng tiến tới một thế giới rộng mở, nhờ các phương tiện kỹ thuật và truyền thông, để rồi các nền tảng văn hoá và tôn giáo mà trong truyền thống rất khác lạ và xa cách, được đưa tới gặp nhau, thâm chí còn hoà quện vào nhau. Mặt khác, cũng mới nổi lên đòi hỏi phải duy trì căn tính địa phương, được coi như những nét văn hoá mà mỗi cá nhân dùng để thể hiện chính mình.

 

36. Tính uyển chuyển của các nền văn hoá càng làm cho “hội nhập văn hoá” trở thành thiết yếu, bởi vì không thể rao truyền phúc âm mà không đối thoại thẳng thắn với văn hoá. Cùng với các dân tộc có nguồn gốc khác nhau tới gõ cửa nhà chúng ta, là  các giá trị và các mẫu sống khác mà họ mang theo. Trong khi mỗi văn hoá có khuynh hướng giải thích Phúc âm sao cho phù hợp với lối sống của họ, thì trách nhiệm của huấn quyền Giáo hội chính là hướng dẫn và phê chuẩn việc này.

 

“Hội nhấp văn hoá” khởi sự từ lắng nghe, có nghĩa là hiểu biết đối tượng mình công bố Tin mừng. Lắng nghe và hiểu biết cho phép biện phân thoả đáng các giá trị và “phản giá trị” trong nền văn hoá đó trong ánh sáng của Mầu nhiệm Vượt Qua: sự chết và sự sống. Khoan dung không đủ, cần phải ‘cảm’ lẫn nhau, và bao có thể tôn trọng căn tính văn hoá của người minh đối thoại với. Nhìn nhận và tôn trọng những khía cạnh tích cực của văn hoá, coi như sự chuẩn bị đón nhận Tin mừng, chính là nhập đề hiệu quả nhất để công bố phúc âm. Chỉ có cách này mới tạo được đối thoại, hiệu biết và tin tưởng lẫn nhau. Đưa mắt nhìn vào phúc âm cũng có nghĩa là quan tâm tới con người, tới phẩm giá và tự do của họ. Tình yêu Thiên Chúa, khi ban cho nhân loại chân lý và cho mỗi người nhận ra ơn gọi cao quí nhất của mình, cũng đồng thời cổ suý nhân phẩm và khai sinh cộng đoàn đặt nền tảng trên việc công bố tin mừng rằng họ được đón tiếp, sống, cử hành và nội tâm hoá (40).

 

Giáo hội của Công đồng chung Vatican II

37. Trong nhãn quan Công đồng Vatican II có ba hướng căn bản qua đó Giáo hội thực thi tác vụ mục tử:

 

1-  Hướng hiệp thông: Giáo hội quí trọng các đặc tình riêng chính đáng của các cộng đoàn Công giáo và liên kết chúng lại vì một viễn ảnh hoàn vũ. Thật vậy hiệp nhất của ngày Hiện xuống không xoá bỏ các ngôn ngữ và văn hoá khác nhau, nhưng nhìn nhận đặc tính của chúng đồng thời mở chúng ra cho những thực tại khác nhân danh đức ái phổ quát tiềm ẩn nơi chúng. Giáo hội Công giáo duy nhất vì thế được cấu tạo bởi và trong các Giáo hội địa phương, cũng như các Giáo hội địa phương được hình thành trong và bởi Giáo hội hoàn vũ (cf. LG 13) (41).

 

2-  Hướng truyền giáo: sứ vụ của Giáo hội là hướng ra bên ngoài, chuyển lưu kho báu mình có cho kẻ khác, và được phong phú hơn nhờ tiếp nhận thêm các giá trị và quà tặng mới. Phẩm chất truyền giáo này phải sống động trong mỗi Giáo hội địa phương bởi vì truyền giáo tiên quyết là toả rạng vinh quang Thiên Chúa, và Giáo hội cần “lắng nghe công bố “công trình quyền năng của Thiên Chúa”…, và được ngài tái qui tụ và hiệp nhất lại” (EN 15)

 

3-  Hướng Đoàn dân và Gia đình của Thiên Chúa, Mầu nhiệm, Bí tích, Nhiệm Thể và Đền thờ Chúa Thánh Thần: Giáo hội trở thành lịch sử của một dân luôn di chuyển. Khởi điểm là mầu nhiệm Đức Kitô và những thăng trầm của các cá nhân hay tập thể làm nên Giáo hội, và từ đó Giáo hội được gọi để hình thành một lịch sử mới là quà tặng của Thiên Chúa và kết quả tự do của con người. Như vậy trong Giáo hội cả di dân cũng được mời gọi trở thành tác nhân của lịch sử này cùng với toàn Dân Chúa lữ hành trên trần gian (cf. Rmi 32, 49 và 71).

 

38. Từ nhãn quan thực tế đó, ta có thể phác hoạ các chọn lựa mục vụ sau đây để tiếp nhận các di dân:

 

1-  chăm sóc mục vụ cho một nhóm sắc dân hay nghi lễ nhằm phát huy tinh thần Công giáo chân chính (cf. LG 13).

2-  cần bảo vệ sự hiệp nhất và tính phổ quát, nhưng điều này không đối kháng với mục vụ chăm sóc chuyên biệt: nếu được, hãy trao di dân cho các linh mục có cùng ngôn ngữ, thuộc giáo xứsui iuris của họ, hay trao cho các linh mục gần gũi họ hơn về phương diện ngôn ngữ và văn hoá (cf. DPMC 11).

3-  ngôn ngữ mẹ đẻ của di dân cũng rất quan trọng, nhờ đó họ diễn đạt được tâm tánh, tư tưởng và văn hoá, các đặc tính đời sống thiêng liêng của ho, cũng như các truyền thống của Giáo hội gốc (cf. DPMC 11).

 

Công việc mục vụ chuyên biệt này hoạt động trong bối cảnh một hiện tượng đang đưa các con người thuộc các quốc gia, nguồn gốc chủng tộc, tôn giáo khác biệt xích lại gần nhau; nó giúp làm nên diện mạo đích thực của Hội thánh hữu hình (cf. GS 92), Nó cũng cho thấy giá trị của di dân dưới khía cạnh đại kết, việc truyền giáo và đối thoại (42). Thật vậy chính qua di dân mà Thiên Chúa đang thực hiện kế hoạch cứu độ của ngài (cf. CV 11, 19-21) (43). Vì thế cần đào sâu đời sống đức tin nơi người di dân, giúp nó trưởng thành thông qua các việc tông đồ mang tính phúc âm hoá và huấn giáo (cf. CD 13-14 và DPMC 4).

 

Nhiệm vụ truyền giáo/đối thoại thuộc về hết mọi phần tử của Nhiệm Thể. Người di dân cũng phải thi hành nhiệm vụ ấy trong sứ vụ tam diện của Đức Kitô Ngôn sứ, Linh mục và Vương đế. Do đó cần xây dựng Giáo hội và làm cho Giáo hội được lớn lên trong và với di dân, hầu cùng nhau tái khám phá và tỏ hiện các giá trị Kitô hữu, đồng thời hình thành một cộng đoàn bí tích chân chính của đức tin, phụng tự, đức ái (44) và hy vọng.

 

Hoàn cảnh đặc biệt của các tuyên uý/truyền giáo và cán sự mục vụ giáo dân trong tương quan với phẩm trật và giáo sỹ địa phương có nghĩa là họ cần ý thức nhất thiết phải thi hành tác vụ của họ trong sự liên kết chặt chẽ với Giám mục địa phận, với phẩm trật và giáo sỹ của ngài (cf. CD28-29; AA 10 và PO 7). Tuy nhiên vì ý thức các khó khăn và tầm quan trọng phải đạt được các mục tiêu trên bình diện cá nhân và tập thể mà các tuyên uý/truyền giáo di dân sẽ cố tìm kiếm sự cộng tác, càng rộng rãi bao nhiêu càng tốt, của các tu sĩ cả nam lẫn nữ (sf DPMC 52-55), cũng như của giáo dân (cf. DPMC 56-61 (45)

 

Tiếp đón và liên đới

39. Sự kiện di dân cũng chạm tới chiều kích tôn giáo của con người; vì thế người di dân công giáo may mắn được có cơ hội, nhưng cũng thường là rất đau đớn, để vươn tới nhận thức mình thuộc về Hội thánh hoàn vũ, vượt xa bất cứ tính cá biệt địa phương nào. Với mục tiêu trên, các cộng đoàn không được nghĩ là mình đã chu toàn bổn phận giúp đỡ di dân chỉ vì đã trợ giúp huynh đệ, hoặc đã đấu tranh với luật pháp để trả lại cho họ vị trí xứng đáng trong xã hội, trong khi vẫn tôn trọng đặc tính khách lạ của họ. Kitô hữu phải cổ suý một nền văn hoá đón tiếp (cf.EEu 101 và 103) có khả năng tiếp nhận các giá trị nhân bản chân chính của di dân, vượt lên trên bất cứ khó khăn nào do tình trạng phải chung sống với những người khác mình gây nên (cf.EEu 85, 112 và PaG 65).

 

40. Kitô hữu thực hành các điều trên bằng cách đón tiếp với tình huynh đệ chân thực, thực hành lời căn dặn của thánh Phaolô “hãy đón nhận nhau như Đức Kitô đã đón nhận anh em, để làm rạng danh Thiên Chúa” (Rm 15:7).

 

Dĩ nhiên là lời kêu gọi xuông, cho dầu có cao thượng và tâm tình đến đâu đi nữa, cũng không thể tự nhiên đáp ứng cách thực tế các vấn đề cấp bách hàng ngày được; chẳng hạn không thể xoá đi mối lo sợ phổ biến và cảm giác bất an nơi con người, hoặc không thể đảm bảo sự tôn trọng pháp lý hay bảo toàn tính toàn vẹn của cộng đoàn tiếp nhận. Tuy nhiên một tinh thần Kitô hữu chân chính sẽ chỉ ra được cách tiếp cận đúng đắn, can đảm đối mặt với vấn đề, và tìm ra các giải pháp thực tiễn. Đó là cách chúng ta được kệu gọi để sống đời sống thường ngày của cộng đoàn Kitô (cf. EEu 85 và 111).

 

41. Vì thế toàn thể Hội Thánh trong quốc gia chủ nhà cần cảm thấy mình thật sự quan tâm và nhập cuộc để lo cho di dân. Điếu đó có nghĩa là các Giáo hội địa phương phải xét lại mục vụ chăm sóc, lên chương trình thế nào để giúp các tín hữu sống đức tin cách chân chính trong bối cảnh mới, đa văn hoá và đa tôn giáo, ngày nay. (47). Dưới sự hướng dẫn của các cán sự xã hội và mục vụ, dân chúng địa phương phải ý thức được tính phức tạp của vấn đề di dân. Họ phải cảm thấy cần chống lại những ngờ vực vô căn cớ, cũng như các thành kiến đối với ngoại kiều.

 

Trong huấn giáo và giáo lý cũng cần tìm ra phương thức thích hợp để tạo nơi lương tâm các Kitô hữu một cảm thức về đón tiếp, nhất là đối với các người nghèo và bị loại trừ, như trường hợp các di dân. Sự tiếp đón này hoàn toàn dựa trên đức ái vì Chúa Kitô, tin chắc rằng việc thiện làm cho người anh em vì lòng yêu Chúa, nhất là cho những người nghèo khổ, là làm cho chính ngài. Giáo lý cũng không được né tránh đề cập tới các vấn đề nghiêm trọng gắn liền với vấn đề di dân, như dân số, việc làm và điều kiện làm việc (làm việc bất hợp pháp), chăm sóc người lớn tuổi, tội phạm, bóc lột di dân, buôn bán và vận chuyển lậu những con người.

 

42. Trong việc tiếp nhận di dân, cũng nên phân biệt giũa trợ giúp theo nghĩa chung chung (tiếp đón lúc đầu và ngắn hạn), tiếp nhận theo nghĩa trọn (kế hoạch dài hạn) và hoà nhập (nhằn theo dõi liên tục trong một thời gian dài, theo ý nghĩa thật của hạn từ).

Các cán sự mục vụ có khả năng làm cầu nối văn hoá – và các cộng đoàn Công giáo chúng ta phải làm sao cho có những con người như thế – được mời gọi hãy nối kết những đòi hỏi chính đáng của trật tư, pháp chế và an sinh xã hội với ơn gọi Kitô hữu là tiếp đón kẻ lạ với biểu lộ bác ái cách cụ thể. Cũng quan trọng không kém là làm sao cho mọi người ý thức được rằng các quốc gia kỹ nghệ được hưởng lợi nhiều từ làn sóng di dân có điều tiết, không chỉ về kinh tế mà thôi. Càng ngày họ càng phải nhận thức rõ là nhu cầu nhân công của họ đã được những con người nam nữ, cả gia đình với trẻ em và người già cả đáp ứng.

 

43. Tuy nhiên trợ giúp hay “tiếp đón giai đoạn đầu” vẫn là quan trọng nhất (hãy nghĩ tới các trung tâm tiếp nhận di dân, nhất là tại các quốc gia trung chuyển) đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của di dân: nhà ăn, nhà ngủ, bệnh xá, trợ giúp tài chánh, trung tâm tiếp nhận. Cũng quan trọng không kém là hành vi tiếp nhận theo nghĩa đầy đủ, nhằm từng bước giúp di dân hoà nhập và tiến tới tự túc. Chúng ta ghi nhận cách riêng các nỗ lực giúp đoàn tụ gia đình, giáo dục con em, ổn định nhà ở, tìm việc, tổ chức công đoàn, cổ vũ nhân quyền để di dân có dịp tham gia cách này hay cách khác vào xã hội tiếp nhận họ. Các hiệp hội tôn giáo, xã hội, từ thiện và văn hoá mang tinh thần Kitô hữu cũng nên cố gắng thu hút chính các di dân vào trong tổ chức của mình.

 

Phụng vụ và việc đạo đức bình dân

44. Nền tảng giáo hội học của mục vụ di dân sẽ giúp hình thành một phụng vụ bén nhạy hơn với các khía cạnh lịch sử và nhân chủng của di dân để việc cử hành phụng vụ trở thành biểu hiện sinh động của cộng đoàn tín hữu đang tiến bước hic et nunc trên con đường cứu rỗi.

 

Điều này đặt ra vấn đề tương quan giữa phụng vụ với các đặc tính, truyền thống và nét đặc sắc của các nhóm văn hoá khác nhau. Làm thế nào để việc chăm sóc mục vụ có thể đáp ứng tình trạng xã hội và văn hoá của các nhóm đó, lưu tâm tới thực tế là họ đã được đào tạo phụng vụ một cách rất cá biệt và đã có những cách thức sinh động phụng vụ riêng (cf. SC 23); nhưng đồng thời cũng cổ vũ các tín hữu di dân tham gia ngày càng rộng rãi hơn vào giáo hội địa phương (cf. EEu 69-72 và 78-80).

 

45. Vì tình trạng thiếu hụt linh mục, có thể sử dụng tối đa giáo dân vào các tác vụ không cần tới chức thánh. Khi không có sẵn linh mục, có thể nghĩ tới việc tổ chức cái gọi là Họp mừng Chúa nhật không linh mục cho các cộng đoàn di dân (cf. CIC Can. 1248, *2), trong đó người ta đọc kinh, công bố Lời Chúa và trao ban Mình Thánh Chúa (cf. PaG 37), dưới sự dẫn dắt của một phó tế hay giáo dân được ủy quyền (48). Việc thiếu hụt linh mục lo cho di dân phần nào có thể được bù đắp bằng việc trao một số hoạt động trong giáo xứ cho giáo dân đã được chuẩn bị xứng đáng, phù hợp với Giáo luật (cf. Can. 228, *1; 230,*3 và 517, *2).

 

Về vấn đề này, cần nắm vững các qui định tổng quát được Toà thánh ban hành mà Tông thưDies Domini tóm tắt như sau:” Khi nào không thể cử hành Thánh lễ, Giáo hội khuyên nên triệu tập Họp mừng Chúa nhật vắng linh mục, phù hợp với các chỉ dẫn và đường hướng của Toà thánh. Những áp dụng cụ thể được trao cho Hội đồng Giám mục ấn định” (49).

 

Liên quan tới vấn đề này, các linh mục hãy cố hết sức làm cho Dân Chúa ý thức được nhu cầu ơn goi linh mục chân chính trong mỗi Giáo hội địa phương, và gia tăng cổ vũ mục vụ ơn gọi ngay giữa các di dân (EEu 31-32 và PaG 53-54).

 

46.  Việc đạo đức bình dân cũng đáng được quan tâm cách đặc biệt (50) vì đó là đặc điểm của nhiều cộng đoàn di dân. Ngoài nhận thức rằng “một khi được định hướng đúng đắn, và nhất là với khoa sư phạm truyền giáo, đạo đức bình dân có một giá trị rất phong phú” (EN 48). Chúng ta cũng nên nhớ rằng đối với nhiều di dân đó chính là sợi dây nối kết họ với Giáo hội gốc của họ, và với cách thức họ hiểu biết và sống đức tin. Đây là vấn đề khởi động công tác phúc âm hoá có chiều sâu để làm cho cộng đoàn Công giáo địa phương biết và quí mến một số hình thức sùng kính của di dân và vì thế thông cảm với họ. Từ sự liên kết tinh thần này ta có thể triển khai một phụng vụ tham gia hơn, hoà hợp hơn và phong phú hơn.

 

Tương tự như thế ta cũng có thể nói về sự liên kết với các Giáo hội Công giáo Đông phương. Việc cử hành phụng vụ theo nghi lễ riêng của giáo xứ sui iuris cho các di dân Công giáo Đông phương để duy trì căn tính thiêng liêng của họ là điều rất quan trọng. Cũng vậy việc sử dụng ngôn ngữ riêng của họ trong phụng tự (51).

 

47.  Mục vụ chăm sóc, dưới góc độ phụng vu, còn cần phải thoáng hơn nữa, vì điều kiện sống đặc biệt của di dân, đối với gia đình là Hội thánh tại gia, việc đọc kinh chung, nhóm kinh thánh tại gia, gia đình sống năm phụng vụ (cf. EEu 78). Cũng nên quan tâm tới việc làm phép gia đình có ghi trong Sách các Phép (52).

 

Ngày nay chúng ta cũng đang được chứng kiến một nỗ lực mới là mời gia đình tham gia vào việc chuẩn bị lãnh nhận các bí tích, điều đang mang lại luồng sinh khí mới cho cộng đoàn Kitô. Qua việc này thực tế là nhiều bạn trẻ (cf. PaG 53) lẫn người trưởng thành, tái khám phá ý nghĩa và giá trị của các phương pháp giúp cho đức tin và đời sống Kitô hữu của họ có thêm sức mạnh mới.

 

48.  Mối nguy cơ đặc biệt đối với đức tin ngày nay chính là tính đa diện tôn giáo, hiểu theo nghĩa là tương đối hoá và tạp thần trong phạm trù tôn giáo. Để chống lại nguy cơ này, cần phải chuẩn bị các sáng kiến mục vụ mới, có khả năng đương đầu với hiện tượng này. Cùng với sự xuất hiện của các giáo phái (53), thì đây chính là một trong các vấn đề nghiêm trọng nhất của mục vụ ngày nay.

 

Di dân Công giáo

49. Về phần các di dân công giáo, Giáo hội cống hiến một thứ mục vụ chăm sóc chuyên biệt vì lý do có sự khác lạ về ngôn ngữ, nguồn gốc, văn hoá và truyền thống, hay vì trực thuộc một Giáo hội sui iuris có nghi lễ riêng. Trên thực tế thì các yếu tố trên thường ngăn cản người di dân mau chóng và trọn vẹn hội nhập vào giáo xứ đối địa địa phương. Cũng cần lưu ý đến các yếu tố này trong trường hợp thiết lập giáo xứ hay hàng giáo phẩm cho các tín hữu thuộc về một Giáo hội riêng biệt sui iuris. Đừng để việc họ bị bứng gốc (khỏi quê hương, gia đình, ngôn ngữ v.v.) mà chuyện xuất ngoại chác chắn tạo nên, trở thành tệ hại hơn nữa vì còn bị bứng gốc cả về nghi lễ và căn tính tôn giáo.

 

50. Khi có các nhóm di dân thật sự đông số và thuần nhất, ta nên khuyến khích họ duy trì truyền thống công giáo riêng của họ. Đặc biệt phải nỗ lực tìm chọn các linh mục có cùng ngôn ngữ, văn hoá và nghi lễ với di dân để phục vụ mục vụ cho ho cách có tổ chức. CIC và CCEO đã tiên liệu nhiều khả thể chọn lựa thích hợp.

 

Cho dầu thế nào đi nữa ta nhất thiết phải nhấn mạnh nhu cầu hiệp thông sâu sắc giữa sứ vụ dựa trên ngôn ngữ và giáo xứ theo địa giới. Hiểu biết lẫn nhau là điều tối quan trọng, do đó cần tận dụng các dịp tốt mà mục vụ thông thường cống hiến để hội nhập di dân vào đời sống của giáo xứ (cf. EEu  28).

 

Trong trường hợp số lượng di dân quá ít để có thể tổ chức mục vụ riêng, Giáo hội địa phương nơi di dân tới cần giúp đỡ họ khắc phục các vấn đề do việc bứng gốc khỏi cộng đoàn nguyên thuỷ gây nên, cũng như các khó khăn nghiêm trọng khi tìm chỗ đứng trong cộng đoàn mới. Trong trường hợp này các cán sự mục vụ, tu sĩ hay giáo dân, trong công tác đào tạo giáo lý hay phụng vụ hãy làm việc sát cánh với các tuyên uý/truyền giáo di dân. Điều này sẽ bảo đảm kết quả tốt (cf. EEu 51, 73 và PaG 51). Cũng cần đề cập tới nhu cầu cống hiến trợ giúp mục vụ chuyên biệt cho các công nhân kỹ thuật, chuyên môn và sinh viên ngoại quốc tạm trú tại các quốc gia mà phần đa dân chúng là Hồi giáo hay tôn giáo khác. Nếu để tự họ mà không được linh hướng, các di dân này, thay vì là nhân chứng Kitô hữu, có thể tạo ra các phán đoán lệch lạc về Kitô giáo.  Nói lên điều này, chúng ta hết lòng ghi nhận ảnh hưởng tích cực của hàng ngàn vạn Kitô hữu đã làm chứng nhân tại các quốc gia này, hay của các di dân các tôn giáo khác đã từng sống trong các vùng mà đa phần là Công giáo khi trở lại quê hương mình nơi có rất ít Kitô hữu.

 

Di dân Công giáo theo Nghi lễ Đông phương

52.  Di dân Công giáo theo Nghi lễ Đông phương mà số lượng đang tăng đều đặn, đáng cho chúng ta dành mối quan tâm mục vụ đặc biệt. Về điều này trước hết ta cần ghi nhớ là giáo luật qui định các tín hữu cần gìn giữ nghi lễ của họ bao có thể tại bất cứ nơi đâu. Nghi lễ được hiểu là di sản phụng vụ, thần học, thiêng liêng và kỷ luật của họ (cf. CCEO Can. 28, *1 và PaG 72).

 

Điều đó có nghĩa là “cho dầu được uỷ thác mục vụ cho hàng giáo phẩm và mục tử của một Giáo hội sui iuris khác, các di dân đó vẫn còn đăng ký là thành viên tai Giáo hội sui iuris của họ” (CCEO Can. 38). Cho dầu có nhiều năm lãnh nhận các bí tích theo nghi lễ của một Giáo hộisui iuris khác, thì cũng không có nghĩa là họ là phần tử thuộc Giáo hội đó (cf. CIC Can. 112, *2). Không ai được “thay đổi nghi lễ nếu không có sự chấp thuận của Toà thánh” (cf. CCEO Can. 32 và CIC Can. 112,*1).

 

Mặc dầu di dân Công giáo Đông phương có quyền và bổn phận giữ nghi lễ riêng, họ cũng có quyền tích cực tham gia cử hành phụng vụ của bất cứ Giáo hội sui iuris nào, kể cả Giáo hội Latinh, phù hợp với qui định trong sách phụng vụ, (cf. CCEO Can. 403,1)

 

Tuy nhiên hàng giáo phẩm cũng phải lưu ý để những ai thường xuyên tiếp xúc với các tín hữu thuộc nghi lễ khác, phải biết và tôn trọng nghi lễ đó (cf. CCEO Can. 41). Và cũng phải cảnh giác để không ai cảm thấy tự do của mình bị giới hạn chỉ vì lý do ngôn ngữ hay nghi lễ (cf. CCEOCan. 588).

 

53. Trong triền suy tư này, Công đồng Vatican II (CD 23) qui định: ”Nơi nào có các tín hữu thuộc nghi lễ khác, Giám mục giáo phận phải lo liệu cho các nhu cầu thiêng liêng của họ, hoặc qua các linh mục hay các giáo xứ cùng nghi lễ, hoặc qua vị Đại diện Giám mục có đủ các năng quyền thích hợp, và nếu cần có cả chức giám mục nữa. Hoặc chính ngài đảm trách nhiệm vụ của đấng bản quyền cho các nghi lễ khác biệt ấy“. Hơn nữa “Giám mục có thể thiết lập một hay nhiều vị Đại diện Giám mục. Các vị này, theo luật, được hưởng quyền mà luật chung dành cho Tổng Đại diện... đối với các tín hữu thuộc một nghi lễ nhất định” (CD 27).

 

54. Phù hợp với Săc lệnh Công đồng, bộ Giáo luật (Can. 383, *2) ấn định rằng nếu Giám mục giáo phận “có tín hữu thuộc nghi lễ khác trong giáo phận ngài, ngài phải lo cho nhu cầu thiêng liêng của họ, hoặc qua linh mục hay giáo xứ có cùng nghi lễ, hay qua vị đại diện giám mục.” Theo CIC  Can. 476, vị đại diện này “có tất cả năng quyền thông thường mà một tổng đại diện có theo luật chung” liên quan tới tín hữu thuộc nghi lễ riêng. Sau khi khảng định nguyên tắc bản tính giáo xứ là đối địa, CIC (Can. 518) thực tế đã xác định ”khi thích hơp, cũng thiết lập giáo xứ tòng nhân dựa trên lý do nghi lễ”.

 

55. Khi xảy ra điều này, các giáo xứ này chiếu theo luật sẽ là thành phần của địa phận Latinh, và vị linh mục quản xứ của nghi lễ đó sẽ là phần tử của linh mục đoàn địa phận của Giám mục Latinh. Tuy nhiên cũng nên lưu ý là, theo giả thuyết mà các khoản giáo luật trên qui định, dầu các tín hữu sống dưới thẩm quyền của giám mục Latinh, trước khi thiết lập giáo xứ tòng nhân hay chỉ định linh mục phụ trách hoặc cha xứ, hay đại diện giám mục, vị Giám mục Latinh cần liên hệ với cả Bộ Giáo hội Đông phương lẫn đấng bản quyền liên quan, đặc biệt với Thượng phụ.

 

Lúc này cũng nên nhắc nhở điều mà CCEO (Can. 193,*3) ấn định: khi giám mục (eparchs) “thiết lập các linh mục hay cha xứ loại này, hay tuyên úy (syncelli) để chăm sóc mục vụ các tín hữu Kitô trong các Giáo hội Thượng phụ”, các ngài “liên hệ với các Thượng phụ liên quan và, một khi được sự ưng thuận, các ngài sẽ tự quyết hành sử, chỉ sớm bao có thể thông báo cho Toà thánh; còn nều vì lý do gì các Thượng phụ không ưng thuận, thì vụ việc phải chuyển về cho Toà thánh” (54). Cho dầu CIC không có điều khoản nào tương ứng với điều này, tương tự cũng được áp dụng cho các Giám mục giáo phận Latinh.

 

Di dân thuộc các Giáo hội và Cộng đoàn Giáo hội khác

56. Số di dân Kitô không trọn vẹn hiệp thông với Giáo hội Công giáo ngày càng tăng sẽ cống hiến cho các Giáo hội địa phương dịp may được sống tình huynh đệ đại kết trong cuộc sống thực tế hàng ngày, và đạt được sự hiểu biết lẫn nhau giữa các Giáo hội và Cộng đoàn giáo hội, vượt xa thái độ chung sống hoà bình dễ dãi, hay tòng giáo. Chính yếu là tinh thần bác ái tông đồ, một mặt tôn trọng lương tâm kẻ khác và nhìn nhận những điều tốt lành nơi họ, mặt khác cũng chờ mong giờ phút mình được trở thành tác nhân của cuộc gặp gỡ sâu xa giữa Chúa Kitô và người anh em. Tín hữu Công giáo không được quên rằng dẫn đưa người anh em tới hiệp thông trọn vẹn với Hội thánh là một phục vụ và biểu lộ tình yêu lớn lao. Thế nào đi nữa thì “trong trường hợp linh mục, mục sư hay cộng đoàn không hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội Công giáo không có địa điểm hoặc đồ vật phụng tự xứng hợp để cử hành nghi lễ tôn giáo của họ, Giám mục giáo phận có thể cho phép họ sử dụng nhà thờ hay cơ sở tôn giáo và mượn bất cứ thứ gì cần thiết cho việc cử hành của họ. Trường hợp tương tự cũng có thể cho phép họ chôn cất và cử hành an táng trong nghĩa trang Công giáo.” (55).

 

57. Một vấn đề khác cần ghi nhớ là trong một số trường hợp người không-Công giáo được phép rước lễ với người Công giáo, như thông điệp Ecclesia de Eucharistia mới đây đã khảng định. Như vậy “trong khi đồng tế khi chưa hiệp thông trọn vẹn bao giờ cũng là bất hợp pháp, thì lại không phải thế đối với việc ban Mình Thánh Chúa, trong một số trường hợp đặc biệt, cho người thuộc các Giáo hội hay Cộng đoàn giáo hội không trọn vẹn hiệp thông với Giáo hội Công giáo. Trường hợp này nhằm đáp ứng nhu cầu thiêng liêng nghiêm trọng cho phần rỗi đời đời của một tín hữu, không cần chờ tới khi liên-hiệp thông được thực hiện cách trọn vẹn qua các dấu hiệu hiệp thông hiển nhiên, điều mà lúc này chưa thể thực hiện được. Đường hướng này là của Công đồng Vatican II khi giải quyết việc Kitô hữu Đông phương, bona fide tách rời khỏi Giáo hội Công giáo, sau khi đã chuẩn bị xứng đáng, tự ý xin linh mục Công giáo ban rước lễ [xem OE 27]. Thái độ trên sau đó đã được cả hai bộ Giáo luật phê chuẩn (với những thích nghi hợp lý) khi cứu xét trường hợp của các Kitô hưũ không-Đông phương và không hoàn toàn hiệp thông với Giáo hội Công giáo (cf. CIC Can. 844, **3-4 và CCEO Can 671, **3-4)” (56).

 

58. Trong mọi trường hợp cần phải biết tôn trọng nhau đối với các qui định của cả đôi bên, nhưCẩm nang Ap dụng những Nguyên tắc và Qui định về Đại kết giải thích rõ:” Người công giáo phải tỏ ra chân thành tôn trọng các qui định phụng tự và bí tích của các Giáo hội và Cộng đoàn giáo hội khác, trong khi họ cũng được kêu gọi tỏ cùng một lòng tôn trọng đối với qui định Công giáo” (57)

 

Trong trường hợp di dân, những ứng dụng trên và “đại kết trong đời sống thường ngày” (PaG64) chắc chắn sẽ mang lai kết quả tốt. Những dịp đặc biệt để dấn thân đại kết chính là các lễ phụng vụ lớn của các giáo phái, các Ngày Thế giới truyền thống Cầu nguyện cho Hoà bình, Di dân và Di cư, Tuần lễ Cầu cho Hiệp nhất Kitô hữu.

 

Di dân thuộc các tôn giáo khác nói chung

59. Trong thời gian gần đây số di dân thuộc các tôn giáo khác tới các quốc gia có truyền thống Kitô giáo gia tăng. Huấn quyền, đặc biệt thông điệp Redemptoris Missio (58) và huấn thị Đối thoại và Công bố (59), đã có các chỉ dẫn rõ ràng về vấn đề này.

Trong trường hợp di dân không-Kitô hữu, Giáo hội cũng quan tâm tới mặt phát triển con người đi đôi với chứng tá bác ái Kitô hữu. Điều này có giá trị phúc âm hoá cao vì có thể mở lòng đón nhận loan truyền tin mừng cách minh nhiên. Tuy nhiên luôn luôn cần có sự thận trọng Kitô hữu và tôn trọng tự do của kẻ khác. Trong bất kỳ trường hợp nào, di dân thuộc các tôn giáo khác phải được giúp đỡ tối đa để duy trì hướng sống siêu nhiên.

 

Giáo hội được mời gọi mở cuộc đối thoại với các di dân này, và “cuộc đối thoại này phải được xúc tiến và duy trì trong xác tín rằng chỉ Giáo hội mới là phương tiện cứu rỗi phổ thường, và sở đắc phương tiện cứu độ trọn hảo” (RMi 55; cf. PaG 68).

 

60. Điều này đòi các cộng đoàn Công giáo tiếp nhận di dân càng phải quí trọng căn tính của mình, minh chứng lòng trung thành của họ với Đức Kitô, hiễu biết nội dung đức tin, tái khám phá ơn gọi truyền giáo và dấn thân làm chứng cho Đức Giêsu là Chúa và cho Phúc âm ngài. Đó là những tiền đề cần thiết cho thái độ đối thoại chân thành, cởi mở và tôn trọng mọi người, nhưng không hề ngây ngô và bất cập (cf. PaG 64 và 68).

 

Nhiệm vụ của Kitô hữu là giúp di dân tìm ra vị trí của họ trong bối cảnh xã hội văn hoá của nước chủ nhà, nhất là qua việc chấp hành các luật dân sự (PaG 72). Tuy nhiên trước hết Kitô hữu hãy dùng chính chứng tá đời sống mình để tố cáo một số khía cạnh tiêu cực trong các nước kỹ nghệ giầu có (duy vật và tiêu thụ, luân lý sa đoạ và tôn giáo nguôi lạnh), điều có thể làm cho niềm xác tín tôn giáo nơi di dân bị lung lay.

 

Chúng ta hy vọng rằng việc dấn thân phục vụ di dân không chỉ được thực hiện do vài cá nhân đơn lẻ hay các cơ quan cứu trợ truyền thống, mà còn nằm trong các chương trình bao quát hơn của các phong trào giáo hội và các hiệp hội giáo dân (cf. CfL 29).

 Bốn vấn đề cần lưu tâm đặc biệt

 

61. Để tránh hiểu lầm và ngộ nhận, trong khi bàn về việc nhìn nhận sự khác biệt tôn giáo và tôn trọng các nơi linh thiêng và tôn giáo của người khác, chúng ta không nghĩ việc cho phép các phần tử thuộc các tôn giáo không-Kitô sử dụng các nhà thờ, nhà nguyện, nơi thờ phượng hay các nơi dùng cho việc phúc âm hoá và mục vụ, là điều thích hợp. Càng không thể khi cho sử dụng để được sự nhìn nhận các yêu sách đối với chính quyền. Ngược lại, các diện tích dùng vào việc xã hội, hoạt động giải trí thể thao, v.v. có thể mở cho các người thuộc tôn giáo khác, miễn là tôn trọng qui luật của nơi đó. Các tiếp xúc xã hội diễn ra tại đó sẽ tạo cơ hội giúp các người mới tới hoà nhập, đồng thời đào tạo các người làm trung gian văn hoá có khả năng giúp vượt qua hàng rào văn hoá và tôn giáo để tiến tới sự hiểu biết lẫn nhau.

 

62. Các trường Công giáo (cf. EEu 59 và PaG 52) không được từ bỏ đặc tính riêng và đường hướng giáo dục Kitô khi tiếp nhận con cái của di dân thuộc tôn giáo khác (60). Phụ huynh muốn ghi danh con em mình phải được thông bào rõ ràng về điều này. Đồng thời không học sinh nào bị bó buộc phải tham dự phụng vụ Công giáo hay làm các hành vi nghịch với niềm xác tín tôn giáo của chúng.

 

Lớp tôn giáo dạy theo chương trình nhà trường mang đạc tính môn học có thể hữu ích để các học sinh học biết về một niềm tin khác với điều mình có. Tuy nhiên trong lớp học tôn giáo tất cả phải được dạy cho biết tôn trọng người khác niềm tin, đồng thời phải tránh thuyết tương đối tôn giáo.

 

63. Liên quan tới hôn phối giữa di dân Công giáo và không-Công giáo, nói chung nên tránh. Tuy nhiên, trong mức độ nào đó và tuỳ vào tôn giáo của đôi bên, một vài nố đặc biệt cũng có luật trừ phù hợp với qui định của CIC và CCEO. Cần gợi nhớ lời Đức Gioan Phaolô II, “Trong gia đình mà cả cha lẫn mẹ đều là người Công giáo, việc chia sẻ đức tin với con cái sẽ dễ dàng hơn. Trong khi chúng ta ghi nhận sự đóng góp của một số hôn nhân khác đạo đã thành công trong việc nuôi dưỡng đức tin của cả hai phối ngẫu và con cái, Thượng hội đồng khuyến khích nỗ lực mục vụ cổ vũ hôn nhân giữa những người cùng một niềm tin” (61).

 

64. Sau hết trong quan hệ giữa Kitô hữu và người các tôn giáo khác thì nguyên tắc “tương tác” (reciprocity) là quan trọng. Đây không được hiểu là vấn đề đòi hỏi nhưng là tương quan dựa trên tôn trọng lẫn nhau và công báng trong lãnh vực pháp lý và tôn giáo. “Có đi có lại” cũng là một thái độ của tâm hồn và tinh thần cho phép chúng ta chung sống bất cứ nơi đâu với quyền lợi và bổn phận ngang nhau. “Có đi có lại” lành mạnh sẽ thúc đẩy mỗi bên trở thành “luật sư bênh vực” quyền lợi của thiểu số khi cộng đoàn tôn giáo mình trở thành đa số. Về điều này chúng ta gợi nhớ tới tình cảnh nhiều di dân Kitô hữu trong các nước mà đa phần dân chúng là không-Kitô hữu, mà ở đó quyền tự do tôn giáo bị giới hạn hay dẹp bỏ.

 

 Di dân Hồi giáo

65. Hiện nay tại một số quốc gia di dân Hồi giáo chiếm một tỷ lệ cao ngày càng tăng, với họ Hội đồng Giáo hoàng muốn bầy tỏ mối quan tâm.

 

Về điều này CĐ Vatican II đã vạch ra thái độ phải có theo tinh thần tin mừng: kêu gọi hãy xóa bỏ những ký ức về một quá khứ đầy hiểu lầm, vun đắp các giá trị chung, giải thích và tôn trọng sự khác biệt, tuy nhiên cũng không được chối bỏ các nguyên tắc Kitô hữu (62). Các cộng đoàn Công giáo vì thế được mời gọi làm công việc phân định: phân biệt giữa cái được và cái không thể chia sẻ trong tín lý, trong thực hành và trong luật luân lý của Hồi giáo.

 

66. Tin vào Thiên Chúa, Đấng tạo hoá và nhân lành, đọc kinh hàng ngày, chay tịnh, làm phước bố thí, hành hương, tu đức để chế ngự dục vọng, đấu tranh chống bất công và áp bức là những giá trị chung được tìm thấy cả trong Kitô giáo lẫn Hồi giáo, cho dầu được diễn tả và biểu lộ cách khác nhau. Ngoài các điểm gặp gỡ trên cũng còn có nhiều dị biệt, một số liên quan tới việc chấp nhận cách hợp pháp đời sống và tư tưởng hiện đại. Hãy nghĩ tới chẳng hạn lãnh vực nhân quyền. Chúng ta hy vọng rằng các anh chị em Hồi giáo sẽ dần dần ý thức được các quyền tự do của con người là bất khả xâm phạm, phẩm giá bình đẳng của người nam và nữ, nguyên tắc chính quyền dân chủ và tính thế tục lành mạnh của quốc gia… là những nguyên tắc không thể nhân nhượng. Cũng vậy cũng cần đạt tới một sự hài  hoà giữa nhãn quan đức tin và sự tự lập chính đáng của tạo vật (63).

 

67. Chẳng hạn khi một phụ nữ công giáo kêt hôn với một người Hồi, ngoài những gì đã được nói tới trong số 63 ở trên và phán đoán mục vụ tại chỗ, kinh nghiệm đau xót dạy chúng ta rằng cần phải chuẩn bị thận trọng và xuyên suốt. Cả hai người thành hôn phải được giúp đỡ để hiểu ra và ý thức “chấp nhận” những dị biệt sâu sắc về văn hoá và tôn giáo họ phải đương đầu, giữa họ với nhau và tương quan với gia đình nhau, với môi trường Hồi giáo gốc một khi họ phải trở về sau thời gian sống ở nước ngoài.

 

Nếu hôn phối được đăng ký tại lãnh sự quán của quốc gia gốc Hồi giáo, bên Công giáo phải biết là mình đọc và ký vào bản tài liệu có nội dung shahada (tuyên xưng đức tin Hồi giáo).

 

Nếu cuối cùng hôn nhân giữa Công giáo và Hồi giáo vẫn được cử hành, không những cần phải có phép chuẩn mà còn cần sự hỗ trợ của cộng đoàn Công giáo cả trước lẫn sau khi cưới. Một trong các nhiệm vụ quan trọng nhất của các hiệp hội công giáo, cán sự tình nguyện và phục vụ tư vấn sẽ là giúp các gia đình này giáo dục con cái, và nếu cần, nâng đỡ thành viên tự vệ yếu nhất trong gia đình Hồi giáo là phụ nữ: họ phải biết và sử dụng nữ quyền.

 

68. Sau hết liên quan tới việc rửa tội con cái, luật pháp của hai tôn giáo được biết đối kháng nhau hoàn toàn. Vấn đề vì thế phải được nêu lên cách hết sức thẳng thắn trong thời gian chuẩn bị hôn nhân, và phía Công giáo phải giữ vững lập trường những gì Giáo hội đòi hỏi. Việc trở lại và xin rửa tội của người Hồi giáo trưởng thành cũng cần phải rất lưu tâm, vì bản chất đặc biệt của đạo Hồi và vì những hậu quả theo sau.

 

 Đối thoại liên tôn

69. Xã hội ngày nay ngày càng pha trộn về tôn giáo, một phần cũng vì di dân; do đó người Công giáo cần xác tín nhu cầu đối thoại liên tôn (cf. PaG 68). Vì mục tiêu này, tín hữu Công giáo bình thường và cán sự mục vụ của Giáo hội địa phương phải được huấn luyện kỹ và có thông tin đầy đủ về các tôn giáo khác hầu tránh thành kiến, thuyết tương đối về tôn giáo, nghi ngờ vô căn cớ và sợ hãi… là những điều phá hoại đối thoại, dựng rào cản, gây bạo động và hiểu lầm nhau. Các Giáo hội địa phương phải lo sao cho việc đào luyện này được đưa vào chương trình giảng dạy trong các chủng viện, trường học và giáo xứ của mình.

 

Tuy nhiên đối thoại giữa các tôn giáo khác nhau không được hiểu theo nghĩa đi tìm các điểm tương đồng để có thể sống chung hoà bình, nhưng trước hết là dịp để tái khám phá những xác tín được chia sẻ trong mỗi cộng đoàn: cầu nguyện, chay tịnh, ơn gọi làm người rất căn bản, rộng mở cho Đấng Vô hình, thờ phượng Thiên Chúa, liên đới giữa các quốc gia (64).

 

Dầu vậy, về phía mình chúng ta không được phép chối bỏ việc công bố – công khai hay âm thầm tuỳ hoàn cảnh - sự cứu độ của Đức Kitô, Đấng Trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và con người. Tất cả mọi công việc của Giáo hội đều chuyển đọng theo hướng này tới độ, không có cuộc đối thoại huynh đệ nào, không có cuộc trao đổi hay chia sẻ các giá trị nhân bản nào, có thể làm suy giảm lời cam kết rao giảng Tin mừng của Giáo hội (cf. RMi 10-11 và PaG 30).

 

PHẦN III

CÁC CÁN SỰ TRONG MỤC VỤ CHĂM SÓC CỦA HIỆP THÔNG

 

Trong Giáo hội quê nhà và Giáo hội tiếp nhận

 

70. Để bảo đảm mục vụ chăm sóc di dân được thật sự là mục vụ hiệp thông (xuất phát từ một nền giáo hội học hiệp thông và phục vụ linh đạo hiệp thông), nhất thiết phải hình thành một sự cộng tác chặt chẽ giữa hai Giáo hội xuất xứ và tiếp nhận; khởi đầu bằng việc hai bên trao đổi thông tin về các vấn đề mục vụ cùng quan tâm. Thật không thể hiểu nổi nếu các Giáo hội này lại không thể đối thoại với nhau, gặp gỡ và thảo luận thấu đáo các vấn đề liên quan tới hàng ngàn di dân. Và để việc phối hợp các hoạt động mục vụ phục vụ di dân được hữu hiệu, Hội đồng Giám mục nên trao cho một Uỷ ban chuyên trách, với việc chỉ định một Giám đốc Quốc gia sinh động các uỷ ban tương ứng cấp giáo phận. Khi có thể thành lập một Uỷ ban như thế, một Giám mục Chủ tịch được uỷ thác việc phối hợp mục vụ chăm sóc di dân. Bằng cách này việc giúp đỡ thiêng liêng những con người xa quê hương sẽ rõ ràng là một cam kết của Giáo hội, một trách nhiệm mục vụ không đơn thuần dành cho thiện chí của các cá nhân linh mục, tu sĩ nam nữ hay giáo dân, mà được toàn Giáo hội địa phương nâng đỡ cả về vất chất lẫn tinh thần (cf. thêmPaG 45).

 

71. Hội đồng Giám mục cũng sẽ trao cho các phân khoa đại học Công giáo thuộc lãnh thổ mình công tác nghiên cứu thấu đáo các khía cạnh khác nhau của di dân hầu hỗ trợ thiết thực cho việc phục vụ mục vụ di dân. Vì mục đích này cũng có thể hoạch định các khoá thần học chuyên môn bắt buộc.

 

Trong các chủng viện, việc đào tạo cũng không thể bỏ qua hiện tượng di dân tầm cỡ thế giới này. “Chủng viện và các trường cao đẳng, qua việc thích ứng chương trình và phương pháp học, giúp các sinh viên làm quen với các thể loại di dân (lâu dài hay thời vụ, quốc tế hay quốc nội), nguyên nhân đẩy dân chúng di chuyển, các hậu quả của chuyển động đó, đường hướng tổng quát của mục vụ trong lãnh vực này, các Văn kiện Toà thánh và Giáo hội địa phương liên quan tới đề tài” (65).

 

Tài liệu giảng dạy môn di dân học trong giai đoạn đầu có thể là tập Quaderni universitari  và tạp chí ‘ [people] On the move” của Hội đồng (trước đây là Uỷ ban) Giáo hoàng Chăm sóc Mục vụ Di dân và Lữ hành, cùng với các tài liệu của Huấn quyền xuất bản gần đây. (66)

 

Sau hết Tông Huấn hậu Thượng hội Pastores dabo vobis, rõ ràng  đòi chủng sinh phải có kinh nghiệm mục vụ về di dân và người du mục. (67)

 

 72. Việc cử hành Ngày (hay Tuần lễ) Thế giới Di dân và Di cư sẽ là dịp tốt để gây ý thức về sự cấp bách của cam kết mục vụ này, và chú tâm tới đề tài Đức thánh Cha đề xuất hàng năm trong Thông điệp của ngài. Hội đồng Giáo hoàng đề nghị ngày này được cử hành mọi nơi vào một ngày nhất định, để giúp mọi người cùng sống trước nhan thánh Chúa một ngày cầu nguyện, hành động và hy sinh cho di dân và di cư.

 

Ngoài Ngày Thế giới, hàng năm Giám mục sẽ gặp gỡ các nhóm sắc dân hiện diện trong giáo phận mình, trong chính nhà thờ Chánh toà nếu có thể. Điều này sẽ rất có ý nghĩa. Tại một vài nơi đã từng tổ chức sự kiện này, người ta gọi là ngày “Lễ hội các dân tộc”.

 

 Điều phối viên tuyên uý/truyền giáo cấp quốc gia 

73. Trong số các cán sự mục vụ phục vụ di dân, vai trò của Điều phối viên Quốc gia là đặc biệt quan trọng. Nhiệm vụ ngài là hỗ trợ các tuyên uý/truyền giáo theo ngôn ngữ và quốc gia hơn là chính di dân. Tương tự như thế, ngài là biểu hiện của Giáo hội ad quam quan tâm nâng đỡ các tuyên uý/truyền giáo, cho dầu chính ngài không được coi là đại diện của họ. Ngài phục vụ các tuyên uý/truyền giáo, là những người, trong các vùng có một số đông di dân tới từ cùng một quốc gia, nhận được chứng chỉ Xác nhận Năng lực (declaration of suitability), một chứng thư do Hội đồng Giám mục a qua cấp (cf. DPMC 36, 2).

 

74. Hoạt động của Điều phối viên Quốc gia đối với các tuyên uý/ truyền giáo là theo dõi huynh đệ, điều chỉnh và tạo gạch nối giữa các cộng đoàn khác nhau. Ngài không có quyền trực tiếp trên các di dân, bởi vì họ - tuỳ theo nơi cư trú hoặc tạm trú - ở dưới thẩm quyền của đấng bản quyền hay hàng giáo phẩm của Giáo hội địa phương đó. Ngài cũng không có thẩm quyền trên các tuyên uý/truyền giáo, vì nếu xét năng quyền thi hành tác vụ, các vị dưới quyền đấng bản quyền địa phương đã ban năng quyền cho mình. Như vậy Điều phối viên Quốc gia sẽ làm việc chặt chẽ với các giám đốc mục vụ di dân cấp quốc gia và giáo phận.

 

 Các tuyên uý/truyền giáo cho di dân

75. Dựa trên các văn kiện Giáo hội trước đây bàn về đề tài này (68), chúng ta ở đây muốn nhấn mạnh trước hết tới nhu cầu chuẩn bị cho công tác mục vụ chuyên biệt giữa di dân (cf. PaG 72), là công tác có chiều kích truyền giáo đích thực và mục tiêu thiêng liêng cao độ. Việc chuẩn bị này phải được thi hành trong sự hiệp thông với và dưới trách nhiệm của đấng bản quyền địa phương quốc gia gốc.

 

76. Về điều này cũng cần ghi nhận: “tính phức tạp và sự biến hóa liên tục rất dễ nhận ra nơi hiện tượng dân chúng di chuyển” cho thấy rằng, để định hướng và xác định mục tiêu cho hoạt động mục vụ, ta cần tới công việc của các cơ quan bổ sung; các cơ quan này được thiết lập để theo dõi hiện tượng di dân và khách quan đánh gia nó. Đó có thể là các trung tâm mục vụ dành cho các nhóm thiểu số, và cao hơn nữa là các trung tâm nghiên cứu liên ngành, thu thập các tài liệu cần thiết để phác hoạ và ứng dụng các sách lược mục vụ” (CMU 40). Những khảo cứu này cũng sẽ rất hữu ích để hướng dẫn việc học trong các chủng viện, các viện đào tạo và trung tâm mục vụ, và có thể trực tiếp sử dụng cho việc chuẩn bị cán sự mục vụ làm việc cho di dân.

 

77. Tuy nhiên trở thành tuyên uý/truyền giáo cho di dân eiusdem sermonis (trong cùng ngôn ngữ) không có nghĩa là đóng kín trong độc một lối sống và diễn tả đức tin. Nếu một đàng chúng ta phải nhấn mạnh nhu cầu chăm sóc mục vụ chuyên biệt vì phải chuyển tải sứ điệp Kitô giáo dựa vào phương tiện văn hoá phù hợp với việc đào tạo và nhu cầu chính đáng của các đối tượng; đàng khác cũng quan trọng không kém khi khảng định rằng mục vụ chăm sóc chuyên biệt này cũng phải mở ra cho một thế giới mới và cho nỗ lực chân thành tìm ra chỗ đứng của mình trong đó. Mục tiêu tối hậu chính là sự tham gia trọn vẹn của di dân vào đời sống giáo phận. Trong tiến trình này, tuyên uý/truyền giáo phải là nhịp cầu nối kết cộng đoàn di dân với cộng đoàn chủ nhà. Ngài phải cùng với họ xây dựng Giáo hội hiệp thông trước hết với Giám mục giáo phận và với các hiền huynh của ngài trong thừa tác vụ linh mục, cách riêng linh mục chánh xứ là người chu toàn cùng một việc mục vụ đó (cf. DPMC 30,3). Để làm điều này ngài cần hiểu biết và quí trọng nền văn hoá của địa phương nơi ngài đang thi hành tác vụ, nói ngôn ngữ, có khả năng đối thoại với xã hội nơi ngài đang sống, dạy tôn trọng và quý mến đối với nước chủ nhà tới độ yêu mến và bảo vệ nó. Vì vậy, mặc dầu Tuyên uý/truyền giáo di dân sử dụng yếu tố sắc tộc và ngôn ngữ như nền tảng thi hành tác vụ, ngài nhận thức rõ là việc chăm sóc mục vụ di dân cũng nhằm xây đắp một Giáo hội hướng tới đại kết và truyền giáo (cf. RMi10-11; DPMC 30,2).

 

78. Những ai trách nhiệm công tác mục vụ giữa các di dân cần phải có chút chuyên môn về truyền thông liên văn hoá. Điều trên cũng áp dụng cho những ai trách nhiệm mục vụ chăm sóc  cấp địa phương; bởi vì dân từ nước ngoài tới không thể tự họ đảm đương việc làm trung gian văn hoá cho chính mình.

 

Các nhiệm vụ chính của cán sự mục vụ di dân trước hết là:

-  bảo vệ căn tính của di dân về sắc tộc, văn hoá, ngôn ngữ và nghi lễ; bởi vì không thể hiểu nổi một hoạt động mục vụ hữu hiệu mà lại không tôn trọng và quí chuộng di sản văn hoá của họ. Tuy nhiên di sản này cũng phải đi vào đối thoại với Giáo hội và văn hoá địa phương hầu đáp ứng được những đòi hỏi mới;

 

-  hướng dẫn di dân trên con đường hội nhập chân chính: tránh ghetto văn hoá, đồng thời cũng chống lại việc di dân bị mất hút vào nền văn hoá địa phương.

 

-  hiện thân của tinh thần truyền giáo và phúc âm hoá, qua việc chia sẻ hoàn cảnh và điều kiện sống của di dân, với khả năng thích ứng và giao tiếp cá nhân trong bầu khí chứng tá cuộc sống cách rõ rệt.

 

 Linh mục giáo phận làm tuyên uý/truyền giáo

79. Tuyên uý/truyền giáo cũng có thể là linh mục giáo phận (thông thường thì ngài vẫn nhập tịch (incardinated) trong giáo phận mình và chỉ tạm thời ra ngoại quốc để chăm sóc di dân) hay linh mục dòng. Cả hai, dầu là giáo phận hay dòng, đều có cùng một sứ mạng cho dầu ơn gọi khởi đầu có thể là khác nhau nhưng bổ sung cho nhau.

 

Linh mục giáo phận thi hành mục vụ trong một giáo phận mà ngài không nhập tịch tuy nhiên vẫn hoà nhập vào giáo phận đó  tới độ ngài trở thành một phần tử trọn vẹn của linh mục đoàn giáo phận (69). Cũng áp dụng như thế cho linh mục dòng. Vì thế cần không ngừng nhấn mạnh rằng tuyên uý/truyền giáo duy trì hiệp nhất và hoà hợp huynh đệ, không những với đấng bản quyền địa phương mà còn với hàng tư giáo giáo phận, cách riêng với các cha xứ. Do đó họ nên tham gia các hội nghị linh mục và các hội nghị khác trong giáo phận, và cố gắng có mặt trong các đại hội học tập các đề tài xã hội, luân lý, phụng vụ và mục vụ. Đây là điều kiện không thể thiếu (sine qua non) để thực hiện mục vụ chăm sóc đúng đắn với sự cộng tác, liên đới và đồng trách nhiệm với nhau (cf. DPMC 42). Cũng đồng thời phải thống nhất hành động để tạo hiệu quả giữa di dân và dân chúng địa phương. Sự liên đới trong suy nghĩ và thực hành này sẽ là tấm gương tốt nhất về thích nghi và hợp tác, nhờ đó đạt được sự hiểu biết và tôn trọng di sản văn hoá của nhau.

 

 Linh mục dòng, sư huynh, nữ tu làm việc cho di dân

80. Linh mục dòng, sư huynh và nữ tu đã luôn nắm vai trò hàng đầu trong công tác mục vụ di dân, và Giáo hội đã và tiếp tục bày tỏ tin tưởng vào những gì họ làm. Cộng đoàn Kitô nhìn nhận ơn gọi tu dòng như ân huệ đặc biệt của Thần Khí mà Giáo hội đón nhận, bảo vệ và giải thích để làm nó tăng trưởng và phát huy xứng với sức năng động của nó (70). Cũng Thần Khí đó trong quá trình lịch sử đã khai sáng ra các hội dòng có mục đích chuyên biệt là tông đồ di dân (71), mỗi dòng có tổ chức riêng.

 

Về điều này chúng ta thấy buộc phải ghi nhớ việc tông đồ của các nữ tu, thường xuyên hiến thân cho mục vụ chăm sóc di dân, với đoàn sủng riêng và chu toàn công việc có tầm quan trọng mục vụ lớn. Chúng ta đặc biệt gợi nhớ những lời của Huấn dụ Hậu Thượng hội Vita consacrata: ”Cũng vậy tương lai của việc tái phúc âm hoá, và mọi hình thức hoạt động truyền giáo khác, sẽ không thể tưởng tượng nổi nếu không có sự đóng góp luôn mới mẻ của người nữ, đặc biệt các nữ tu” (số 57). “Do đó phải cấp thời đi các bước cụ thể, mà khởi đầu là dành chỗ cho phụ nữ tham gia vào mọi lãnh vực khác nhau và ở mọi cấp, kể cả tiến trình lấy quyết định, nhất là trong các vần đề liên quan tới chính nữ giới” (72).

 

81. Ngoài các tu hội chuyên lo mục vụ chăm sóc di dân còn có các tu hội khác, cho dầu không phải là đoàn sủng chuyên biệt của họ, cũng được trân trọng mời gọi tham gia vào trách vụ này. Thật vậy “việc họ dấn thân chăm sóc thiêng liêng hạng tín hữu này, đặc biệt chọn các hoạt động thích hợp nhất với bản chất và mục đích của dòng mình, là điều thích đáng và đáng ca ngợi” (DPMC 53,2). Đây là ứng dụng thực tế một trong các hướng dẫn của Công đồng, “vì quan tâm đến nhu cầu khẩn cấp của các linh hồn và vì thiếu các giáo sỹ giáo phận, nên các Giám mục có thể kêu gọi các Tu hội không hoàn toàn sống đời chiêm niệm giúp đỡ những việc mục vụ khác nhau, nhưng vẫn tuỳ theo bản tính riêng của mỗi Tu hội; để hỗ trợ công việc trên, các Bề trên phải hết sức hưởng ứng việc lãnh nhận giáo xứ dù chỉ là tạm thời” (CD 35).

 

82. Nhưng nếu tất cả các dòng tu, trong việc mục vụ của mình, có suy nghĩ về tính chuyển dộng của dân chúng, họ tất phải quảng đại nghĩ tới việc gởi một số các hội viên (nam hoặc nữ) của họ làm việc trực tiếp trong cánh đồng di dân. Nhiều dòng có thể có những đóng góp rất quí giá vào việc chăm sóc mục vụ di dân vì có các hội viên được đào tạo chuyên môn, tới từ nhiều quốc gia và dễ dàng gởi đi làm việc ở hải ngoại.

 

Đặc biệt trong lãnh vực di dân mà vai trò của các dòng tu trong Tông Huấn Evangelii nuntianditrở nên minh bạch. Thật vậy “bằng đời sống mình tu sĩ là dấu chỉ của việc luôn sẵn sàng sống cho Chúa, cho Giáo hội và cho tha nhân. Trong tư cách đó họ thật sự là quan trọng trong bối cảnh chứng tá… là điều tối hệ trọng trong việc phúc âm hoá. Trong khi họ trở thành một thách đố đối với thế giới, với chính Giáo hội, chứng tá âm thầm nghèo khó và xả thân, thanh khiết và chân thực, hiến thân trong vâng phục, họ có thể trở thành chứng từ hùng hồn làm rung động tâm hồn cả các không-Kitô hữu có thiện tâm và nhạy cảm trước một số giá trị nào đó” (EN 69).

 

83. Nhu cầu quan tâm mục vụ này đã được nhấn mạnh trong Huấn thị ngày 25 tháng 03 năm 1987 bàn về mục vụ dấn thân cho di dân và di cư, do Bộ Tu Sỹ và Thế viện và Uỷ ban Giáo hoàng về Mục vụ Di dân và Du lịch đồng xuất bản gởi tới tất cả các bề trên thượng cấp nam và nữ. Lời kêu mời các dòng tu dấn thân đặc biệt phục vụ các di dân và người di cư có lý do sâu sắc là sự tương đồng rõ rệt giữa mong ước thầm kín của những con người phải bỏ quê cha đất tổ ra đi và đời sống tu sĩ. Mơ ước của họ, dầu không được diễn tả, là của người nghèo không viễn tượng an toàn, là của người bị loại trừ đau đớn ước mơ tình huynh đệ và hiệp thông. Một khi được những con người tự nguyện chọn sống nghèo khó, thanh khiết và vâng phục cống hiến tình liên đới, điều này không những chỉ nâng đỡ họ trong hoàn cảnh khó khăn mà còn là chứng tá của các giá trị có khả năng thắp lên nơi họ niềm hy vọng trong hoàn cảnh éo le (cf. số 8). Đây là lời mời gọi khẩn cấp gởi tới tất cả các Tu hội đời Thánh hiến và Hiệp hội đời Tông đồ, xin họ hãy quảng đại mở rọng chân trời phục vụ của họ cho chiều kích truyền giáo đích thực này. Lời mời gọi này được đặc biệt gởi tới các Dòng tu có mục đích chuyên biệt là truyền giáo (73).

 

84. Rõ ràng là ngày nay nhiều dòng tu đang ngày càng ý thức  vấn đề di dân trở thành một thách đố đối với đoàn sủng của họ. Nhưng để nhận thức thiêng liêng này và những kêu mời của huấn quyền được cụ thể hóa, chúng tôi lúc này đề nghị các bề trên thượng cấp quảng đại cộng tác với các cán sự mục vụ di dân bằng cách đề cử một số hội viên của họ làm việc trong lãnh vực này, với sự nâng đỡ và liên đới của toàn công đoàn tu sĩ. Họ có thể dành một phần cơ sở để trống của họ, cách vĩnh viễn hay trong một thời hạn nào đó, cho việc phục vụ này.

 

Chúng tôi cũng đề nghị qua các thơ luân lưu viết cho hội viên và trong các cuộc hội họp, bề trên thỉnh thoảng tâp trung vào sự cấp bách của vấn đề di dân và di cư, quan tâm tới các tài liệu của Giáo hội và lời của Đức Thánh Cha. Các ngài cũng nên đưa vấn đề này ra bàn trong các Tổng Tu nghị và Tỉnh Tu nghị hoặc trong các khoá bồi dưỡng đào luyện liên tục. Các linh mục tương lai cũng nên ít nhất nghĩ tới khả thể chuẩn bị mình để thi hành tác vụ giữa di dân, nếu không trọn vẹn thì ít là một phần. (74).

 

85. Liên quan tới cuộc sống thực tế của tu sĩ nam nữ làm việc cho di dân, cần phải nhấn mạnh tiêu chuẩn nền tảng là đời sống tu sĩ phải được bảo toàn trong linh hứng cũng như trong hình thức riêng của nó. Tự nó đời tu là hình ảnh của đức ái trọn hảo, một đoàn sủng quí giá cho toàn cộng đoàn. Mục vụ chăm sóc di dân chắc chắn cần cộng đoàn tu sĩ, nhưng cộng đoàn tu sĩ cũng phải sống và làm việc trung thành với qui định của hiến luật họ. Điều này được Mutuae Relationes khảng định rõ:” Trong giờ phút chuyển biến văn hoá và canh tân Giáo hội này, rất cần thiết phải duy trì vững vàng căn tính của mỗi Hội dòng, hầu có thể tránh khỏi các hiểm nguy của hoàn cảnh nhiễu nhương; và người tu sĩ, không vì thiếu quan tâm tới lối hoạt động riêng của căn tính mình, mà tham gia vào đời sống Giáo hội cách mập mờ và lệnh lạc” (MR 11).

 

 Giáo dân, các hiệp hội giáo dân và phong trào hội thánh: dấn thân giữa di dân

86. Cả trong Giáo hội lẫn xã hội, các giáo dân, hiệp hội giáo dân và các phong trào hội thánh, giữa tất cả khác biệt về đoàn sủng và tác vụ, được mời gọi làm chứng tá Kitô hữu và sẵn sàng phục vụ di dân (75). Đặc biệt chúng ta nhớ đến các trợ tá mục vụ và giáo lý viên, sinh động viên các nhóm bạn trẻ và người lớn, các cán sự lăn lộn trong thế giới lao động, trong các công tác xã hội và bác ái. (cf. PaG 51).

 

Trong một Hội thánh được Thần Khí Chúa thôi thúc, đang phấn đấu để trọn vẹn trở thành truyền giáo-phục vu, thì việc tôn trọng các ân điển của mỗi người phải được đặt lên hàng đầu. Trong vấn đề này, tín hữu giáo dân phải có được các lãnh vực với quyền tự trị cao, trong đó họ chu toàn trách vụ Diakonia độc đáo như thăm viến bệnh nhân, giúp đỡ các người già yếu, hướng dẫn các nhóm thanh niên, sinh động các hội gia đình, dạy giáo lý, điều hành các khoá huấn luyện nghề nghiệp, làm việc trong các trường học và trong hành chánh, xa hơn nữa phụ tá phụng vụ và trong các “trung tâm tư vấn”, trong gặp gỡ cầu nguyện và suy tư Lời Chúa.

 

87. Một công tác chuyên môn khác dành cho tín hữu giáo dân là làm việc trong các nghiệp đoàn và trong thế giới lao động, cố vấn và soạn thảo luật nhằm bênh vực việc đoàn tụ gia đình của di dân, bảo đảm cho họ quyền bình đẳng và các điều kiện thuận lợi khác. Có nghĩa là mở cho di dân cánh cửa để đạt được các nhu cầu thiết yếu như công ăn việc làm và lương bổng, nhà ở và trường học, và cho phép họ tham gia vào đời sống dân sự của xă hội (bầu cử, hiệp hội, hoạt động thể thao giải trí v.v.).

 

Trong chính Giáo hội ta cũng có thể xem xét khả năng thiết lập một hình thức thừa tác viên không chức thánh của đón tiếp, với nhiệm vụ lui tới với di dân và người di cư, dẫn đưa họ vào cộng đoàn giáo hội và dân sự cách tiệm tiến, hay giúp đỡ họ trong trường hợp hồi hương. Trong bối cảnh này cần lưu tâm đặc biệt tới các du học sinh.

 

88. Liên quan tới điều này các tín hữu giáo dân cũng cần được huấn luyện cách có hệ thống (cf.PaG 51), có nghĩa là không chỉ chuyển đạt tư tưởng và khái niệm, nhưng trước hết giúp họ (chắc chắn có cả phần tri thức) làm chứng nhân bằng một đời sống Kitô hữu chân chính. Cả các cộng đoàn theo sắc dân và ngôn ngữ cũng phải là nơi giáo dục, trước cả khi trở thành trung tâm của tổ chức; và trong nhãn quan mở rộng này, phải tạo không gian cho việc huấn luyện liên tục và có hệ thống.

 

Chứng tá Kitô hữu của giáo dân trong việc xây dựng Vương quốc của Chúa chắc chắn đứng đầu danh sách của môt lô các vấn đề quan trọng như: tương quan Giáo hội với thế giới, đức tin với cuộc sống, bác ái với công bằng.

 

PHẦN IV

CÁC CƠ CẤU CỦA VIỆC CHĂM SÓC MỤC VỤ TRUYỀN GIÁO

 

Hợp nhất trong đa diện: các vấn đề.

89. Có rất nhiều lý do để giải thích lý do tại sao mục vụ chuyên biệt chăm sóc di dân phải được kết hợp cách chặt chẽ với mục vụ của Giáo hội địa phương (cf. DPMC 42). Nhân vật đầu hết chịu trách nhiệm về mục vụ này là chính Giám mục giáo phận. Trong khi vẫn hoàn toàn tôn trọng sự khác biệt và di sản thiêng liêng, văn hoá của di dân, ngài đi xa hơn các giới hạn của tính đồng bộ (cf. PaG 65 và 72), phân biệt giữa đặc tính địa giới của việc chăm sóc thiêng liêng các tín hữu với việc chăm sóc dựa trên yếu tố họ thuộc về các nhóm sắc dân, ngôn ngữ, văn hoá và nghi lễ.

 

Trong bối cảnh đó các Giáo hội chủ nhà được mời gọi hãy tiếp thu thực tế cụ thể của các con người và các nhóm là thành phần của mình, liên kết các giá trị của mỗi nhóm lại vì tất cả đều được kêu gọi xây dựng một Hội thánh Công giáo cụ thể. “Bằng cách đó trong Giáo hội địa phương sẽ có hiệp nhất trong đa diện, thứ hiệp nhất là hoà hợp chứ không phải đồng bộ, trong đó mọi khác biệt hợp pháp có vai trò của mình trong nỗ lực hiệp nhất chung” (CMU 19).

 

Như thế trong Thần Khí của ngày Hiện xuống, Giáo hội địa phương sẽ góp phần vào việc xây dựng một xã hội mới, trong đó các ngôn ngữ và văn hoá khác nhau, thay vì tạo ra rào cản không thể vượt qua nổi như thời hậu Babel, sẽ, vì chính sự khác biệt đó, thực hiện được một cách thức mới để truyền thông và hiệp nhất (cf. PaG 65).

 

Công việc mục vụ giữa di dân như vậy trở thành việc phục vụ của Giáo hội đối với các tín hữu có ngôn ngữ và văn hoá khác lạ với nước chủ nhà, đồng thời đảm bảo rằng các cộng đoàn ngoại kiều cũng có đóng góp riêng vào việc xây dựng một Giáo hội là dấu chỉ và dụng cụ của hiệp nhất trong viễn tượng một nhân loại được canh tân. Ta rất cần đào sâu và tiếp thu nhãn quan này hầu tránh đi những căng thẳng giữa các giáo xứ bản địa với lãnh địa tuyên uý di dân, giữa các linh mục giáo phận với các tuyên uý/truyền giáo. Trong tất cả điều này, cũng cần ghi nhận lối phân biệt cổ điển giữa di dân thế hệ thứ nhất, thứ hai và thứ ba, mỗi thế hệ có đặc tính riêng và các vấn đề đặc thù.

 

90. Ngày nay vấn đề giúp di dân tìm được chỗ đứng của họ trong Giáo hội chủ yếu là trên hai bình diện: một là pháp lý cơ cấu, hai là thần học mục vụ.

 

Hiện tượng nhận loại chuyển động hiện nay thuộc tầm cỡ thế giới. Bề lâu bề dài điều này có nghĩa là vượt xa hơn cả việc chăm sóc mục vụ đơn-sắc dân (mono-ethnic), cho tới nay áp dụng cả cho tuyên uý/truyền giáo cho ngoại kiều lẫn giáo xứ địa giới của nước chủ nhà, để hướng tới một mục vụ dựa trên đối thoại và không ngừng cộng tác hỗ tương.

 

Liên quan tới lãnh địa của tuyên uý/truyền giáo dành cho người khác văn hoá, ngôn ngữ, ta cần lưu ý là đơn vị mục vụ cổ điển Missio cum cura ani-marum trong quá khứ cơ bản gắn liền với di dân trong giai đoạn tạm trú để được nhập cư. Ngày nay giải pháp này không còn là chọn lựa mục vụ hầu như độc tôn cho các cộng đoàn di dân đang sống với những cấp độ hoà nhập khác nhau vào đất nước chủ nhà. Nói cách khác, ta cần nghĩ ra các cơ cấu mới, một đàng “ổn định” hơn, nghĩa là có hình thức pháp lý hữu hiệu hơn trong Giáo hội địa phương, đàng khác vẫn sẽ uyển chuyển và rộng mở, thích hợp với tính di động và tạm bợ của di dân. Vấn đề tuy không dễ nhưng có thể coi như một thách đố trong tương lai.

 

 Cơ cấu mục vụ

91. Trong khi vẫn luôn ghi nhận rằng chính di dân là đối tượng hàng đầu của mục vụ chăm sóc, ta thử vạch ra giải pháp thích hợp, cả trong lãnh vực mục vụ sắc dân-ngôn ngữ lẫn trong mục vụ hoà nhập.

 

Trong lãnh vực thứ nhất, ở đây chúng ta lưu ý tới một số chức năng và cơ cấu mục vụ, khởi đầu với Missio cum cura animarum, đơn vị cổ điển dành cho các cộng đoàn đang được thiếp lập, áp dụng cho các nhóm dân tộc/quốc gia hay nhóm nghi lễ chưa được ổn định. Ngay cả trong các lãnh vực tuyên uý/truyền giáo chúng ta cần nhấn mạnh ngày càng hơn về mối quan hệ liên-săc tộc và liên-văn hoá.

 

Một đàng, giáo xứ tòng nhân dựa trên sắc dân-ngôn ngữ hay giáo xứ dựa trên nghi lễ riêngvẫn phải được tiên liệu cho những nơi có một cộng đoàn di dân tiếp tục có người mới tới, hiện tại và trong tương lai, và có dân số khá lớn. Vẫn duy trì các phục vụ đặc thù của một giáo xứ (Công bố lời Chúa, huấn giáo, phung vụ và diakonia), đồng thời rất mực quan tâm tới các người di dân mới, các công nhân thời vụ hay thay ca, tới tất cả những người mà vì lý do này hay lý do khác khó tìm ra chỗ đứng trong cơ cấu địa giới có sẵn.

 

Chúng ta cũng có thể vạch ra trường hợp giáo xứ địa phương với nhiệm sở sắc dân-ngôn ngữhay nhiệm sở dựa trên nghị lễ riêng. Đây hoàn toàn là một giáo xứ đối địa, với sự giúp đỡ của một hoặc nhiều cán sự mục vụ, đảm nhận việc chăm sóc cho một hay nhiều nhóm tín hữu di dân. Trong trường hợp này vị tuyên uý phải là thành phần của ban mục vụ.

 

Tương tự cũng có thể có mục vụ sắc dân-ngôn ngữ trên cấp vùng, được hiểu là mục vụ dành cho di dân đã tương đối hoà nhập tốt vào xã hội địa phương. Thiết tưởng việc duy trì một vài yếu tố chăm sóc mục vụ dựa trên căn bản ngôn ngữ, hay trên liên hệ quốc tịch, hay nghi lễ riêng vẫn là rất quan trọng. Điều này có thể đảm bảo những phục vụ thiết yếu, gồm cả những gì liên quan tới một loại văn hoá hay đạo đức cá biệt, trong khi đó vẫn cổ vũ sự cởi mở và giao lưu giữa cộng đoàn địa phương và các nhóm sắc dân khác nhau.

 

92. Dầu thế nào đi nữa, khi chưa thích hợp và khó có thể thiết lập các cơ cấu mục vụ ổn định theo giáo luật, bổn phận trợ giúp mục vụ cho di dân Công giáo không vì thế mà giảm thiểu. Ta làm tất cả những gì mà hoàn cảnh cho là tốt nhất, cho dầu không có các tổ chức chuyên biệt theo giáo luật. Những dàn xếp mục vụ không chính thức, có thể là tự phát, rất đáng được nhìn nhận và khích lệ trong nội vi một giáo phận, không cần biết có bao nhiêu người được hưởng ơn ích của nó. Chỉ cần tránh nguy cơ ngẫu hứng, đơn độc, cán sự mục vụ không thích hợp và các giáo phái.

 

Mục vụ chăm sóc tổng hợp và các khu vực khác nhau

93. Chăm sóc mục vụ hoà nhập ở đây trước hết được hiểu như hiệp thông, biết quý chuộng việc thuộc về các nền văn hoá và dân tộc khác nhau. Đây chính là đáp trả kế hoạch yêu thương của Chúa Cha, đấng xây dựng Vương quốc hoà bình của ngài – nhờ, với và trong Đức Kitô – nhờ sức mạnh của Thần Khí, đan dệt bằng những thăng trầm lịch sử rất phức tạp, nhiều khi còn đối nghịch nhau nữa (cf. NMI 43).

 

Dựa trên nguyên lý này chúng ta có thể dự phóng:

- giáo xứ liên-văn hoá, liên-sắc tộc, liên-nghi lễ, cung cấp hỗ trợ mục vụ cho cả dân bản xứ và ngoại kiều cư trú trong cùng địa giới. Bằng cách này giáo xứ đối địa truyền thống trở nên địa diểm ưu tiên và ổn định cho kinh nghiệm liên-sắc dân và liên-văn hoá, trong khi các nhóm cá thể vẫn duy trì được một sự tự lập nào đó. Hay

 

- giáo xứ địa phương phục vụ di dân của một hay nhiều nhóm sắc dân, một hay nhiều nghi lễ. Đây là một giáo xứ đối địa có dân chúng địa phương, nhưng nhà thờ hoặc trung tâm giáo xứ đồng thời trở thành địa điểm qui tụ, gặp gỡ và sống cộng đoàn cho một hay nhiều cộng đoàn ngoại kiều.

 

94. Sau hết chúng ta cũng dự phóng một số môi trường, cơ sở hay lãnh vực mục vụ chuyên biệt dành riêng cho việc sinh động và huấn luyện các cấp khác nhau trong thế giới di dân. Chúng ta nghĩ tới:

 

-   Trung tâm dành cho công tác mục vụ giữa người trẻ và dành cho hướng nghiệp, với nhiệm vụ phát huy sáng kiến trong lãnh vực này;

 

- Trung tâm huấn luyện giáo dân và cán sự mục vụ, trong viễn tượng đa văn hoá;

 

- Trung tân nghiên cứu và suy tư mục vụ, với nhiệm vụ theo dõi sự biến thái của hiện tượng di dân và đề xuất cho các người trách nhiệm đường hướng mục vụ thích hợp.

 

Các đơn vị mục vụ

95. Các đơn vị mục vụ (76), đã được hình thành cách đây ít lâu tại một số giáo xứ, trong tương lai có thể trở thành bệ phóng mục vụ cho việc tông đồ giữa các di dân. Chúng cho thấy tương quan giáo xứ và địa giới đang dần chuyển biến. Ta có thể nhận thấy việc phục vụ thiêng liêng các tín hữu ngày càng đông bắt đầu vượt ra ngoài ranh giới giáo xứ; các hình thức phục vụ mới đang xuất hiện, và sau hết, quan trọng không kém, là di dân “diaspora” đang không ngừng gia tăng tầm quan trọng cũng như ngày càng lan rộng theo địa dư.

 

Đơn vị mục vụ sẽ đạt được kết quả mong muốn nếu được vận hành trước hết trong bối cảnh của công tác mục vụ toàn diện, hoà nhập và có hệ thống. Trong cơ cấu này các lãnh địa tuyên uý/truyền giáo, và cho một nghi lễ riêng nào đó, cũng có thể được hoàn toàn chấp nhận. Những yêu cầu hiệp nhất và đồng trách nhiệm phải được diễn đạt cách cụ thể, không chỉ giữa các cá nhân hay các nhóm khác nhau, mà còn trong quan hệ giữa cộng đoàn giáo xứ địa phương và các cộng đoàn sắc dân-ngôn ngữ và các cộng đoàn nghi lễ nữa.

 

 KẾT LUẬN

SỨ MẠNG HOÀN VŨ

 

 

Semina Verbi (Hạt giống Lời Chúa)

96. Ngày nay di dân tạo thành cuộc chuyển động những con người, đôi khi cả một dân tộc, vĩ đại nhất trong mọi thời đại. Nó đưa chúng ta tới tiếp xúc với các con người nam nữ, các anh chị em của chúng ta mà vì lý do kinh tế, văn hoá, chính trị hay tôn giáo đã rời bỏ hay bị ép buộc rời bỏ mái ấm để phần đa rơi vào các trại tị nạn, các thành phố khổng lồ vô hồn, các khu ổ chuột vùng ven đô, ở đó họ phải chia sẻ số phận bị hắt hủi của các kẻ thất nghiệp, các trẻ bụi đời và các phụ nữ bị ruồng bỏ. Di dân khao khát những nghĩa cử làm họ cảm thấy được tiếp đón, được nhìn nhận như một con người. Đôi khi chỉ cần một câu chào hỏi thôi đã đủ.

 

Đáp lại khát vọng đó các người thánh hiến nam hay nữ, các cộng đoàn, hiệp hội giáo dân và phong trào giáo hội, cũng như các cán sự mục vụ phải cảm thấy bổn phận giáo dục các Kitô hữu đón tiếp, liên đới và cởi mở với khách ngoại kiều hầu làm cho di dân ngày càng trở thành yếu tố “có ý nghĩa” đối với Giáo hội; và các tín hữu khám phá ra semina Verbi ẩn trong các nền văn hoá và tôn giáo khác nhau. (77).

 

97. Trong cộng đoàn Kitô hữu khai sinh ngày Hiện xuống, di dân là một phần cơ bản của đời sống Giáo hội, rõ ràng diễn tả tính phổ quát, cổ võ hiệp thông từ bên trong, và ảnh hưởng trên sự tăng trường của Giáo hội. Di dân vì thế cống hiến cho Hội thánh một cơ hội lịch sử để chứng tỏ bốn đặc tính: Hội thánh là một vì, trong một ý nghĩa nào đó, biểu lộ sự hiệp nhất của toàn gia đình nhân loại; là thánh thiện, vì làm cho mọi dân tộc nên thánh thiện và để danh Chúa được vinh sáng nơi họ; là công giáo, khi ngày càng mở rộng cho các khác biệt để tạo hoà hợp; và là tông đồ, vì cam kết phúc âm hoá mọi con người và mọi dân nước.

 

Như vậy rõ ràng là lời hiệu triệu truyền giáo của Hội thánh không chỉ  được xác định bởi khoảng cách địa dư mà còn bởi khác biệt về văn hoá và tôn giáo. “Truyền giáo” là đi tới mọi người để công bố Đức Giêsu Kitô, và - trong Đức Kitô và trong Giáo hội - đưa họ tới sự hiệp thông với toàn thể nhân  loại.

 

Những người xây dựng hiệp nhất

98. Một khi giai đoạn khẩn cấp đã qua đi và người di dân đã định cư trong nước chủ nhà, tuyên uý/truyền giáo sẽ nỗ lực mở rộng chân trời của mình và trở thành “phó tế của hiệp thông”. Vì là ngoại kiều nên ngài sẽ là lời nhắc nhở sống động cho Giáo hội địa phương, trong mọi phương diện, về đặc tính công giáo của nó; và cơ cấu mục vụ ngài điều hành sẽ là dấu chỉ, dẫu còn rất nghèo nàn, về một Giáo hội địa phương cụ thể dấn thân vào con đường hiệp thông hoàn vũ, trong sự tôn trọng những khác biệt hợp pháp.

 

99. Trong diện này cả các tín hữu giáo dân, cho dầu không có chức vụ hay nhiệm vụ đặc biệt nào, họ đang khởi đầu một cuộc hành trình hiệp thông, có nghĩa là biết chấp nhận các khác biệt. Chắc chắn việc bênh vực các giá trị Kitô hữu cũng có nghĩa là không kỳ thị di dân, trước hết qua việc chính giáo dân canh tân tận căn đức tin. Đối thoại huynh đệ và tôn trọng lẫn nhau, sống chứng tá tình yêu và đón tiếp, tự chúng trở thành hình thái phúc âm hoá đầu tiên và không thể thiếu.

 

Tinh thần đối thoại và truyền giáo trong việc chăm sóc mục vụ

100. Các Giáo hội địa phương được kêu mời nhân danh Tin mừng đón tiếp di dân qua các sáng kiến mục vụ bao gồm gặp gỡ họ, đối thoại với họ, cũng như giúp các tín hữu mình vượt thắng các định kiến và thành kiến. Trong xã hội hiện đại mà người di dân đang làm cho nó ngày càng trở nên đa chủng tộc, đa văn hoá và đa tôn giáo hơn, các Kitô hữu được mời gọi đối diện với một chương hoàn toàn mới và căn bản trong nhiệm vụ truyền giáo: là trở nên nhà truyền giáo trong các quốc gia đã có truyền thống Kitô giáo lâu năm (cf. PaG 65 và 68). Trong khi vẫn kính trọng và lưu tâm tới truyền thống và văn hoá của di dân, Kitô hữu chúng ta được kêu gọi làm chứng cho tin mừng tình yêu và hoà bình trong giao tiếp với họ, và cũng công khai công bố Lời Chúa cho họ hầu phép lành của Chúa, lời hứa cho Abraham và dòng giống ngài đến muôn đời, cũng tới với họ nữa.

 

Và bởi vì là đối thoại, hiệp thông và truyền giáo nên mục vụ chăm sóc chuyên biệt cho, giữa vàvới di dân trở thành một diễn tả đầy ý nghĩa của Hội thánh, được mời gọi là nơi gặp gỡ huynh đệ và hoà bình, mái ấm của mọi người, được xây dựng trên bốn cột trụ mà Chân phước Giáo hoàng Gioan XXIII đề cập tới trong Pacem in Terris, đó là: chân lý, công bằng, tình yêu và tự do (78). Đó chính là các hoa trái của biến cố Vượt qua, trong đó Đức Kitô giao hoà mọi người và mọi vật. Giáo hội nhờ đó biểu lộ rõ mình là mái nhà, là trường học của hiệp thông (cf. NMI 43) trong đó  con người được đón nhận và chia sẻ, của hoà giải được mong đợi và trao ban, của tiếp đón lẫn nhau và huynh đệ, của phát triển nhân bản và Kitô hữu chân chính. Như vậy “tính chất phổ quát tiềm tàng trong tổ chức Giáo hội được khảng định, trong đó không ai được coi mình chỉ là khách lạ, sống bên lề các biến cố” (CMU 29).

 

Hội thánh và các Kitô hữu, dấu chỉ của hy vọng

101.Đối mặt với sự chuyển động vĩ đại của dân chúng, với hiện tượng nhân loại di chuyển, được coi như “credo” mới của con người thời đại, đức tin nhắc nhở rằng mỗi người chúng ta đều là lữ hành trên đường về quê hương đích thực. “Đời sống Kitô hữu chính yếu là sống sự Vượt qua với Đức Kitô, hay là một hành trình, một cuộc di dân cao cả tiến tới hiệp thông trọn vẹn trong Nước Chúa” (CMU 10). Trọn lịch sử Giáo hội minh hoạ lòng đam mê và nhiệt thành của mình đối với nhân loại đang tiến bước này.

 

“Ngoại kiều” là sứ giả của Chúa gây cho ta ngạc nhiên và cắt ngang sự đều đặn và hơp lý của cuộc sống thường nhật, đem những kẻ ở xa lại gần. Trong “ngoại kiều” Giáo hội nhận ra Đức Kitô “tới cắm lều giữa chúng ta” (cf. Ga 1:14) và “gõ cửa nhà chúng ta” (cf. Ep 1:9-10). Sự gặp gỡ này có đặc tính là quan tâm, đón tiếp, chia sẻ và liên đới, bảo vệ quyền của di dân và cam kết phúc âm hoá họ… Điều đó cho thấy Giáo hội hằng quan tâm vì khám phá ra nơi di dân các giá trị chân chính và coi di dân như tài nguyên vĩ đại của nhân loại.

 

102. Chúa đã uỷ thác cho Giáo hội lữ hành trên trần gian nhiệm vụ phải rèn nên một nhân loại mới trong Đức Kitô Giêsu, thâu tóm về cho ngài (cf. Ep 1:9-10) tất cả kho tàng của sự di biệt nhân loại mà tội lỗi đã biến trở thành chia rẽ và tranh chấp. Tuỳ vào mức độ sự hiện diện bí ẩn của tạo vật mới này được minh chứng chân thực trong đời sống mình, Giáo hội trở nên dấu chỉ của hy vọng cho thế giới trong khát vọng nóng bỏng về công bằng, tự do, chân lý và liên đới. Đó chính là hoà bình và hoà hợp (79). Và cho dầu không ngừng thất bại ngay trong các dự án nhân loại mà tự nó là rất cao quí, các Kitô hữu được hiện tượng di chuyển thôi thúc, ý thức rằng họ được kêu gọi để không ngừng trở nên dấu chỉ của tình huynh đệ và hiệp thông trên thế giới qua việc tôn trọng các dị biệt và thực thi liên đới trong cách cư sử khi gặp gỡ kẻ khác.

 

103. Cả di dân cũng có thể là các thợ xây âm thầm của tình huynh đệ hoàn vũ, chung vai sát cánh với các anh chị em khác. Họ cống hiến cho Giáo hội cơ hội để thực hiện cụ thể căn tính hiệp thông và ơn gọi truyền giáo của mình, như vị Đại diện Đức Kitô đã quả quyết:” Di dân cống hiến cho mỗi Giáo hội địa phương cơ hội để xác định tính công giáo của mình, không chỉ hệ tại việc đón tiếp các nhóm sắc dân khác nhau, nhưng trên hết là tạo hiệp thông với họ và giữa họ với nhau. Đa diện về dân tộc và văn hoá trong Giáo hội không phải chỉ là điều buộc phải khoan nhượng vì chỉ thoáng qua, nhưng là có chiều kích thuộc chính kết cấu Giáo hội. Sự hiệp nhất của Giáo hội không tới từ một nguồn gốc và ngôn ngữ chung, nhưng từ chính Thần Khí Chúa của ngày Hiện xuống có khả năng qui tụ những người nam nữ có ngôn ngữ và quốc gia khác nhau lại, làm thành một dân tộc, và ban cho tất cả niềm tin vào cùng một Đức Chúa và kêu gọi họ tới chia sẻ cùng một niềm hy vọng“ (80).

 

104. Xin Đức Maria Đồng trinh, đấng đã cùng với Con Chí thánh của Mẹ cảm biết những đau khổ của kiếp di dân và lưu đày, giúp chúng con thấu hiểu kinh nghiệm của bi kịch những ai bị cưỡng bức sống xa quê hương xứ sở phải chịu. Xin dạy chúng con biết phục vụ họ trong cơn thiếu thốn, biết đón nhận họ như những người anh chị em, hầu di dân ngày nay được coi như lời mời gọi bí nhiệm của Nước Chúa đã từng hiện diện trong Hội thánh, là khởi đầu của Hội thánh (cf. LG 9), và trở thành dụng cụ của Chúa Quan phòng thúc đẩy sự hiệp nhất và hoà bình của toàn gia đình nhân loại (81).

 

 NHỮNG QUI ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ MỤC VỤ

DẪN  NHẬP

 Khoản 1.

*1. Đối với quyền của tín hữu được lãnh nhận các trợ giúp xuất phát từ kho tàng thiêng liêng của Hội thánh, nhất là Lời Chúa và các Bí tích (CIC Can. 213; CCEO Can. 16), về phía các vị chủ chăn cũng có bổn phận tương ứng là cung cấp các trợ giúp đó, cách riêng với di dân căn cứ vào điều kiện sống đặc biệt của họ.

*2. Xét về diện nơi cư trú hay gần-như-nơi cư trú, căn cứ vào giáo luật di dân thuộc về giáo xứ và giáo phận nơi tiếp nhận(CIC Can. 100-107; CCEO Can. 911-917), cha xứ và Giám mục địa phận có bổn phận rộng ban cho họ cùng một chăm sóc mục vụ như các thuộc quyền bản địa có quyền được hưởng.

*3. Tuy nhiên, nhất là khi nhón di dân đông, các Giáo hội nơi gốc của họ cũng có trách nhiệm cộng tác với các Giáo hội nơi đến để tạo thuận tiện cho việc nâng đỡ mục vụ được hữu hiệu.

 Chương I

 

TÍN HỮU GIÁO DÂN

 

  Khoản 2

*1. Trong khi chu toàn nhiệm vụ riêng của mình, tín hữu giáo dân cần thể hiện cụ thể những gì chân lý, công bình và bác ái đòi hỏi. Vì thế họ tiếp đón các anh chị em di dân và làm tất cả những gì có thể làm để đảm bảo các quyền của họ, đặc biệt các quyền liên quan tới gia đình và sự hợp nhất gia đình, phải được chính quyền nhìn nhận và bảo hộ.

*2. Tín hữu giáo dân cũng được mời gọi cổ suý việc phúc âm hoá các di dân bằng chứng tá đời sống Kitô hữu của chính họ, và, khi có thể, bằng việc công bố Lời Chúa cho họ cách thích hợp. Sự tham gia này càng cần thiết hơn khi di dân không được hỗ trợ về mặt tôn giáo. Trong trường hợp đó tín hữu giáo dân hãy quan tâm tìm tới di dân và hướng dẫn họ tới nhà thờ trong vùng, tham gia giúp đỡ các tuyên uý/truyền giáo và cha xứ hầu tạo dễ dàng cho việc các ngài tiếp xúc với di dân.

 

 Khoản 3

*1. Tín hữu nào quyết định chung sống với người dân tộc khác cần nỗ lực tôn trọng di sản văn hoá của đất nước đón tiếp mình, cần đóng góp vào lợi ích chung và quảng bá đức tin nhất là bằng gương sáng đời sống Kitô hữu.

*2. Trường hợp di dân có số đông, cần cống hiến cho họ khả năng góp phần vào các hội đồng mục vụ giáo phận và giáo xứ để họ thật sự tìm được chỗ đứng trong cơ cấu tham gia của Giáo hội địa phương.

*3. Trong khi duy trì quyền của di dân có các hiệp hội riêng, phải làm mọi cách để đồng thời tạo điều kiện cho họ tham gia vào các hiệp hội địa phương.

*4. Cần khích lệ và đào tạo các tín hữu giáo dân, những người đã được chuẩn bị về văn hoá-thiêng liêng, để họ sẵn lòng đảm trách việc phục vụ chuyên biệt với tư cách cán sự mục vụ, cộng tác chặt chẽ với tuyên uý/truyền giáo.

 

 Chương II

 CÁC TUYÊN UÝ/TRUYỀN GIÁO

 

  Khoản 4

*1. Các linh mục được đấng bản quyền địa phương uỷ thác việc giúp đỡ thiêng liêng các di dân cách ổn định vì có cùng ngôn ngữ hay quốc gia, hoặc thuộc về cùng một Giáo hội sui iuris,được gọi là tuyên uý/truyền giáo di dân. Để chu toàn chức vụ, các ngài được trao các năng quyền được xác định trong can. 566, *1 của CIC.

*2. Chức vụ này được trao cho linh mục đã được chuẩn bị qua một giai đoạn đào tạo thích hợp, và, dựa trên nhân đức, văn hoá, hiểu biết ngôn ngữ và các ân huệ luân lý và thiêng liêng khác, tỏ ra là người thích hợp cho nhiệm vụ chuyên biệt rất khó khăn này.

 

 Khoản 5

*1. Đối với các linh mục có ước muốn dấn thân vào việc giúp đỡ thiêng liêng các di dân, Giám mục giáo phận phải cho phép họ, nếu xét thấy họ xứng hợp với sứ mạng, tuân theo các qui định của CIC Can. 271 và CCEO Can. 361-362, và của qui chế mục vụ hiện hành này.

*2. Các linh mục đã có đủ phép tắc, như được giải thích ở đoạn trước, phải đặt mình sẵn sàng trước Hội đồng Giám mục ad quam. Các ngài thủ đắc các tài liệu liên quan được Giám mục giáo phận và Hội đồng Giám mục của các ngài cấp (hay của cơ cấu giáo quyền tương đượng có thẩm quyền của các Giáo hội Công giáo Đông phương). Hội đồng Giám mục ad quam sẽ uỷ thác các ngài cho Giám mục giáo phận liên hệ để bổ nhiệm các ngài làm tuyên uý/truyền giáo cho di dân.

*3. Liên quan tới các linh mục dòng muốn hiến mình cho việc giúp đỡ di dân, các qui định trong chương III cũng được áp dụng.

 

 Khoản 6

*1. Khi thấy cần thiết lập một giáo xứ tòng nhân vì số lượng di dân đông, hay vì việc cung cấp cho họ sự chăm sóc đặc biệt theo nhu cầu riêng là điều thích hợp, Giám mục giáo phận phải xác định rõ ràng ranh giới của giáo xứ và các qui tắc liên quan đến sổ sách giáo xứ. Bất cứ khi nào có thể, phải nhớ rõ là di dân hoàn toàn tự do tuỳ họ muốn thuộc về giáo xứ đối địa nơi họ sinh sống hay thuộc giáo xứ tòng nhân.

*2. Linh mục được trao giáo xứ tòng nhân có mọi quyền hạn và bổn phận của cha xứ; các điều xác định ở đây về tuyên uý/ truyền giáo di dân cũng áp dụng cho họ, trừ trường hợp bản chất sự việc đòi cách khác.

 

 Khoản 7

*1. Giám mục giáo phận cũng có thể thiết lập missio cum cura animarum trong địa giới của một hoặc nhiều giáo xứ. Các điều kiện liên quan cũng phải được xác định rõ ràng. Nó có thể, hoặc không thể, được sát nhập vào một giáo xứ đối địa.

*2. Vị tuyên uý được uỷ thác missio cum cura animarum – vẫn luôn giữ các phân định cần thiết – có thẩm quyền pháp lý tương đương một cha xứ và thi hành các chức vụ cùng với cha xứ địa phương. Do đó ngài có thẩm quyền cử hành chứng hôn khi một trong hai phối ngẫu là di dân thuộc địa hạt ngài.

*3. Trong trường hợp đề cập tới ở đoạn trên, tuyên uý buộc phải viết vào sổ giáo xứ như luật đòi hỏi và cuối năm gởi một bản chính cho cha xứ địa phương và cho quản xứ nơi hôn phối đã được cử hành.

*4. Các linh mục được cắt cử như cha phó cho một tuyên uý được trao missio cum cura animarum – vẫn luôn giữ các phân định cần thiết – có cùng các nhiệm vụ và quyền hạn như các cha phó xứ.

*5. Nếu hoàn cảnh thích hợp, một missio cum cura animarum, đã được thiết lập trong địa giới của một hay nhiều giáo xứ, có thể được sát nhập vào một giáo xứ đối địa, nhất là khi giáo xứ được trao cho hội viên của cùng một Tu hội đời Thánh hiến hay Hiệp hội đời Tông đồ như các vị đang giúp đỡ thiêng liêng di dân.

 

Khoản 8

*1. Bao có thể, nên trao cho mỗi tuyên uý di dân, cả khi không được trao cho một missio cum cura animarum, một nhà thờ hoặc nhà nguyện để các ngài thi hành tác vụ thánh. Trường hợp ngược lại, Giám mục giáo phận có thẩm quyền sẽ ban các chỉ dẫn thích hợp cho phép tuyên uý/truyền giáo tự do thi hành bổn phận thiêng liêng của ngài trong một nhà thờ, không loại trừ là nhà thờ xứ, cùng với cha xứ địa phương.

*2. Giám mục giáo phận cũng phải đảm bảo là nhiệm vụ của tuyên uý/truyền giáo di dân phải được phối hợp với văn phòng giáo xứ, và văn phòng này phải tiếp nhận và giúp đỡ họ (cf. CICCan. 571). Cũng rất thích hợp nếu một vài tuyên uý/truyền giáo di dân được mời vào hội đồng linh mục giáo phận.

 

 Khoản 9

Giám mục giáo phận nào đã thiết lập địa sở, mà vị tuyên uý thi hành tác vụ, phải đảm bảo cho ngài các điều kiện kinh tế và bảo hiểm mà các linh mục giáo phận khác được hưởng, trừ khi có hợp đồng rõ ràng trái ngược được ký kết.

 

 Khoản 10

Thời hạn việc bổ nhiệm tuyên uý/truyền giáo cho di dân là thuộc thẩm quyền của Giám mục giáo phận đã thiết lập địa sở, nơi vị tuyên uý chu toàn chức vụ. Thời hạn này liên quan đến cả việc thi hành tác vụ thánh lẫn việc nắm giữ các kỷ luật Giáo hội.

 

 Khoản 11

*1. Trong quốc gia có nhiều tuyên uý/truyền giáo di dân cùng ngôn ngữ, sẽ là thích hợp nếu một trong số họ được chỉ định làm điều phối viên cấp quốc gia.

*2. Vì trách nhiệm của điều phối viên là phối hợp tác vụ và phục vụ của các tuyên uý/truyền giáo hoạt động trong một quốc gia cá biệt, ngài hành động nhân danh Hội đồng Giám mục ad quam,mà vị chủ tịch chỉ định ngài sau khi tham khảo với Hội đồng Giám mục a qua.

*3. Điều phối viên thông thường được chọn trong số các tuyên uý/truyền giáo có cùng quốc tịch hay ngôn ngữ.

*4. Điều phối viên không có một thẩm quyền nào do chức vụ.

*5. Vì chức vụ mình, điều phối viên có bổn phận duy trì quan hệ với Giám mục giáo phận của quốc gia a quo, và với các vị của quốc gia ad quem.

*6. Mỗi khi bổ nhiệm, thuyên chuyển hay thay thế tuyên uý/truyền giáo, hoặc khi họach định thiết lập một địa sở mới, sẽ rất thích hợp nếu vấn đề được bàn với điều phối viên.

 

 Chương III

 TU SĨ NAM VÀ NỮ

 

 Khoản 12

*1. Tất cả các hội dòng có hiện diện thường xuyên của tu sĩ thuộc nhiều quốc gia khác nhau đều có thể đóng góp cho việc giúp đỡ di dân. Giáo quyền vì thế hãy đặc biệt khuyến khích cộng việc của những người, dưới dấu ấn của lời khấn, lấy việc tông đồ di dân làm mục đích riêng của mình hay đã tích luỹ kinh nghiệm quí báu trong lãnh vực này.

*2. Trợ giúp do các hội dòng nữ cống hiến cho việc tông đồ di dân cũng cần được trân trọng. Giám mục giáo phận vì thế, trong khi hoàn toàn tôn trong luật pháp của Hội dòng và lưu ý tới những ràng buộc và đoàn sủng riêng, sẽ lo sao cho các hội dòng này không thiếu nâng đỡ thiêng liêng cũng như các phương tiện vật chất cần thiết để họ thi hành sứ mạng.

 

 Khoản 13

*1. Cách chung, khi một Giám mục giáo phận muốn trao việc chăm sóc di dân cho một Hội dòng, trong sự hoàn toàn tôn trọng các qui định thông thường của giáo luật, ngài sẽ soạn một văn bản hợp đồng với bề trên của đòng đó. Nếu liên quan tới nhiều giáo phận thì bản hợp đồng phải được từng Giám mục ký. Vai trò điều phối các sáng kiến này là của uỷ ban có thẩm quyền của Hội đồng Giám mục hay cơ cấu giáo hội tương đương của các Giáo hội Công giáo Đông phương.

*2. Nếu mục vụ chăm sóc di dân được trao cho cá nhân tu sĩ, tiên quyết phải có sự ưng thuận của bề trên tu sĩ đó, và cả trường hợp này cũng phải có hợp đồng liên quan bằng văn bản; tóm lại, vẫn lưu ý đến các phân định cần thiết, thủ tục cũng tương tự như các qui định trong khoản 5 dành cho linh mục địa phận.

 

 Khoản 14

Liên quan tới việc thi hành tông đồ giữa di dân và người lữ hành, mọi tu sĩ đều phải tuân phục các qui định của Giám mục giáo phận. Cả trong trường hợp các Tu hội có mục đích chuyên biệt là giúp đỡ di dân, mọi hành động và sáng kiến hỗ trợ di dân đều phải đặt dưới thẩm quyến và đường hướng của Giám mục giáo phận. Tuy nhiên bề trên vẫn có quyền giám sát đời sống tu sĩ và lòng nhiệt thành của hội viên mình khi thi hành tác vụ.

 

 Khoản 15

Tất cả những gì được qui định cho tu sĩ trong chương này cũng áp dụng cho các Hiệp hội đời Tông đồ và các Tu hội đời – vẫn tôn trọng các phân định cần thiết.

 Chương IV

 

CÁC THẨM QUYỀN HỘI THÁNH

 

  Khoản 16

*1.Giám mục giáo phận sẽ dành cho tín hữu di dân sự chăm sóc đặc biệt, trước hết qua việc ủng hộ công tác mục vụ dành cho di dân của các linh mục quản xứ và các tuyên uý/truyền giáo di dân. Trong việc này ngài sẽ yêu cầu sự trợ giúp cần thiết từ phía Giáo hội gốc của di dân hoặc từ các tổ chức khác dấn thân vào việc năng đỡ thiêng liêng di dân. Ngài cũng lo thành lập các cơ cấu mục vụ thích hợp nhất, tuỳ theo hoàn cảnh và nhu cầu mục vụ. Nếu cần thiết Giám mục giáo phận sẽ bổ nhiệm một Đại diện Giám mục với trọng trách điều hành việc chăm sóc mục vụ di dân, hoặc ngài sẽ thành lập Văn phòng di dân ngay tại Toà giám mục.

*2. Vì việc chăm sóc thiêng liêng các tín hữu là bổn phận in primis của Giám mục giáo phận. Vì thế ngài có trách nhiệm thiết lập các giáo xứ tòng nhân và missiones cum cura animarum, và bổ nhiệm các tuyên uý/truyền giáo. Giám mục giáo phận sẽ đảm bảo sao cho cha xứ của giáo xứ đối địa và linh mục được uỷ thác di dân phải đồng hành trong tinh thần cộng tác và cảm thông.

*3. Giám mục giáo phận, theo CIC Can. 383 và CCEO Can. 193, cũng sẽ lo hỗ trợ thiêng liêng cho di dân thuộc một Giáo hội sui iuris khác, nâng đỡ công việc mục vụ của linh mục có cùng nghi lễ hoặc của các linh mục khác, tuân thủ các qui định liên quan của giáo luật.

 

 Khoản 17

*1. Liên quan tới di dân Kitô không trọn vẹn hiệp thông với Giáo hội Công giáo, Giám mục giáo phận có thái độ bác ái, cổ suý đại kết như Giáo hội vẫn hiểu, và cống hiến cho các di dân này hỗ trợ thiêng liêng khi cần trong khả năng cho phép, luôn tôn trọng các qui định liên quan đếncommunicatio in sacris và desiderata chính đáng của các mục tử của họ.

*2. Giám mục giáo phận cũng coi các di dân không rửa tội như được Chúa trao phó cho ngài. Ngài cũng cống hiến cho họ cơ hội tiến tới chân lý trong Đức Kitô, nhưng luôn tôn trọng tự do lương tâm của họ.

 

 Khoản 18

*1. Giám mục giáo phận của các quốc gia a quibus sẽ lưu tâm các cha xứ về bổn phận nghiêm trọng của họ là nghiêm túc đào tạo tôn giáo cho các tín hữu, để nếu hoàn cảnh xảy ra, họ sẽ có thể đương đầu với các khó khăn liên quan tới việc ra đi của các di dân của họ.

*2. Giám mục giáo phận của địa điểm a quibus phải chính mình lo tìm ra linh mục giáo phận thích hợp cho việc chăm sóc mục vụ di dân, và ngài cũng không quên liên hệ chăt chẽ với Hội đồng Giám mục (hay cơ cấu giáo hội tương đương của các Giáo hội Công giáo Đông phương) của quốc gia ad quem để được giúp đỡ trong công việc mục vụ.

*3. Cả khi trong giáo phận hoặc vùng chưa có nhu cầu khẩn thiết buộc các chủng sinh phải học chuyên môn lãnh vực di dân, các vấn đề của nhân loại di chuyển cũng cần được quan tâm tới ngày một hơn trong việc dạy thần học, nhất là thần học mục vụ.

 

Chương V

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VÀ CÁC CƠ CẤU GIÁO QUYỀN TƯƠNG ỨNG CỦA CÁC GIÁO HỘI CÔNG GIÁO ĐÔNG PHƯƠNG

 

 Khoản 19

*1. Tại các quốc gia có số lớn di dân tới hoặc đi, Hội đồng Giám mục và cơ cấu giáo quyền hữu trách của các Giáo hội Công giáo Đông phương sẽ thành lập uỷ ban quốc gia đặc biệt về di dân. Uỷ ban có thư ký, thường kiêm luôn chức vụ giám đốc quốc gia về di dân. Thật thích hợp nếu có mặt trong uỷ ban với tư cách chuyên viên các tu sĩ đang làm việc trợ giúp thiêng liêng di dân, cũng như các tín hữu có khả năng trong lãnh vực này.

*2 Trong các quốc gia khác khi mà con số di dân không cao, Hội đồng Giám mục hoặc cơ cấu giáo quyền hữu trách của các Giáo hội Công giáo Đông phương sẽ bổ nhiệm một Giám mục khởi xướng viên để bảo đảm các di dân được trợ giúp đúng cách.

*3. Hội đồng Giám mục, và cơ cấu giáo quyền hữu trách của các Giáo hội Công giáo Đông phương, sẽ thông báo cho Hội đồng Giáo hoàng Chăm sóc Mục vụ Di dân và Người Lữ hành về thành phần uỷ ban được mô tả trong đoạn nhất hay danh tánh của Giám mục khởi xướng viên.

 

 Khoản 20

*1. Bổn phận của Uỷ ban Di dân hay của Giám mục khởi xướng viên là:

1.   thu thập các tin tức về tình trạng di dân trong nước và chuyển các tư liệu hữu ích cho các Giám mục. Ngài cũng liên lạc với các trung tâm nghiên cứu về di dân;

2.   sinh động và khích lệ các uỷ ban di dân giáo phận, để tới lượt họ sinh động các uỷ ban giáo xứ quan tâm tới hiện tượng nhân loại di chuyển rất phổ biến và rộng khắp;

3.   tiếp nhận các yêu cầu về tuyên uý/truyền giáo của các Giám mục giáo phận nhận di dân, và giới thiệu cho các ngài các linh mục được đề nghị cho tác vụ này.

4.   đề xuất khi cần cho Hội đồng Giám mục và cơ cấu giáo quyền hữu trách của các Giáo hội Công giáo Đông phương để bổ nhiệm điều phối viên cấp quốc gia cho tuyên uý/truyền giáo.

5.   tạo quan hệ thích hợp với các Hội đồng Giám mục và cơ cấu giáo quyền tương đương của các Giáo hội Công giáo Đông phương liên hệ.

6.   tạo liên lạc thích hợp với Hội đồng Giáo hoàng về Mục vụ Chăm sóc Di dân và Người Lữ hành, và chuyển các chỉ dẫn nhận được từ Hội đồng cho các Giám mục giáo phận.

7.   gởi báo cáo hàng năm về tình hình mục vụ chăm sóc di dân cho Hội đồng Giáo hoàng về Mục vụ Chăm sóc Di dân và Người Lữ hành, cho Hội đồng Giám mục và cơ cấu giáo quyền tương ứng của Giáo hội Công giáo Đông phương, cũng như cho các Giám mục giáo phận.

 

*2. Nhiệm vụ của Giám đốc quốc gia là:

1.   cách chung, tạo điều kiện cho quan hệ giữa các Giám mục quốc gia gốc với uỷ ban quốc gia hay với Giám mục khởi xướng viên -  tham chiếu khoản 4.

2.   soạn báo cáo được nói tới trong điểm 7, *1 của khoản luật này.

 

 Khoản 21

Để khơi dậy nơi các tín hữu ý thức về bổn phận huynh đệ và bác ái đối với di dân, và để quyên góp tài chính cần cho việc chu toàn trách nhiệm mục vụ đối với họ, Hội đồng Giám mục và cơ cấu giáo quyền tương ứng của các Giáo hội Công giáo Đông phương sẽ ấn định một “Ngày (hay Tuần lễ) Di dân và Di cư” vào thời gian và cách thức mà hoàn cảnh địa phương cho phép. Trong tương lai hy vọng sẽ có thể thoả thuận một ngày tháng cử hành khắp mọi nơi.

 

Chương VI

HỘI ĐỒNG GIÁO HOÀNG VỀ MỤC VỤ CHĂM SÓC DI DÂN VÀ NGƯỜI LỮ HÀNH.

 

 Khoản 22

*1. Nhiệm vụ của Hội đồng Giáo hoàng về Mục vụ Chăm sóc Di dân và Người Lữ hành là hướng dẫn “mối quan tâm mục vụ của Giáo hội tới nhu cầu đặc biệt của những người bị buộc rời bỏ quê hương họ cũng như những người vô quê hương. Tiếp đó Hội đồng theo sát các vấn đề liên quan tới lãnh vực này” (PB 149). Tuy nhiên “Hội đồng cam kết bảo đảm rằng các Giáo hội địa phương cống hiến trợ giúp mục vụ cần thiết và hữu hiệu cho các dân di cư và lưu đày- cũng như các di dân, bằng cách thiết lập các cơ cấu mục vụ thích hợp khi cần” (PB 150, 1), tuy nhiên vẫn luôn tôn trọng trách nhiệm mục vụ của các Giáo hội địa phương và thẩm quyền của các cơ quan khác thuộc Giáo triều Roma.

*2. Do đó bổn phận của Hội đồng Giáo hoàng là:

1.   nghiên cứu các báo cáo do các Hội đồng Giám mục hay cơ cấu giáo quyền tương ứng của các Giáo hội Công giáo Đông phương gởi về;

2.   ban hành các huấn thị, qui chiếu Can. 34 của CIC, đề xuất và khích lệ các sáng kiến, hoạt động và chương trình để phát triển các cơ cấu và tổ chức liên quan đến mục vụ chăm sóc di dân;

3.   Cổ vũ việc trao đổi tin tức giữa các Hội đồng Giám mục khác nhau hay từ các cơ cấu giáo quyền tương ứng của các Giáo hội Công giáo Đông phương, và tạo điều kiện cho quan hệ giữa họ với nhau, nhất là trong vấn đề thuyên chuyển linh mục từ quốc gia này qua quốc gia khác để lo mục vụ chăm sóc di dân;

4.   nghiên cứu, khích lệ và sinh động hoạt động mục vụ của các cơ quan hiệp thông giáo hội cấp vùng và châu lục, hầu điều phối và hoà hợp các sáng kiến phục vụ di dân;

5.   nghiên cứu tình thế để lượng định nhu cầu thiết lập cơ cấu mục vụ đặc biệt cho di dân tại mỗi nơi và trong hoàn cảnh nhất định;

6.   cổ vũ mối quan hệ giữa các Hội dòng cống hiến trợ giúp thiêng liêng cho di dân với Hội đồng Giám mục và các cơ cấu giáo quyền tương ứng của các Giáo hội Công giáo Đông phương, và theo dõi công việc của họ, nhưng luôn tôn trọng thẩm quyền của Bộ các Tu hội đời Thánh hiến và Hiệp hội đời Tông đồ trong những gì liên quan tới việc nắm giữ đời sống tu trì, và thẩm quyền của Bộ Giáo hội Đông phương;

7.   thúc đẩy và tham gia các sáng kiến hữu ích và thiết thực hướng tới sự hợp tác đại kết có hiệu quả và lành mạnh trong lãnh vực di dân, đồng thuận với Hội đồng Giáo hoàng về Cổ vũ Hiệp nhất Kitô hữu;

8.   thúc đẩy và tham gia các sáng kiến hữu ích và thiết thực cho đối thoại giữa các nhóm di dân không Kitô hữu, đồng thuận với Hội đồng Giáo hoàng về Đối thoại Liên tôn.

 Xoá bỏ mọi điều khoản nghịch với các đường hướng này.

 Ngày 01 tháng 05 năm 2004, kính nhớ Thánh Giuse Thợ, Đức Thánh Cha đã châu phê Huấn thị này của Hội đồng Giáo hoàng về Mục vụ Chăm sóc Di dân và Người Lữ hành, và cho phép xuất bản.

 

 

Roma, từ văn phòng Hội đồng Giáo hoàng về Mục vụ Chăm sóc Di dân và Người Lữ hành, ngày 03 tháng 05 năm 2004, Lễ Thánh Philipphê và Giacôbê, Tông đồ.

Hồng Y Stephen Fumio Hamao, Chủ tịch

+ Agostino Marchetto, Tổng Giám mục Hiệu toà Astigi, Thư ký

 

 

 Abbreviations

AA                    Apostolicam actuositatem (II Vatican Council)

AAS                   Acta Apostolicae Sedis

AG                     Ad Gentes (II Vatican Council)

CCEO                Codex Canonum Ecclesiarum Orientalium

CD                     Christus Dominus (II Vatican Council)

CfL                    Christifideles Laici (Pope John Paul II)

CIC                    Codex Iuris Canonici

CMU                  Chiesa e mobilita umana (The Church and Human Mobility)(Pontifical Commission for   the Pastoral Care of Migration and Tourism)

DPMC                De Pastorali Migratorum Cura (Congregation for Bishops)

EA                     Ecclesia in America (Pope John Paul II)

EE                     Ecclesia de Eucharistia (Pope John Paul II)

EEu                   Ecclesia in Europa (Pope John Paul II)

EN                     Evangelii Nuntiandi (Pope Paul VI)

EO                     Ecclesia in Oceania (Pope John Paul II)

EV                      Enchiridion Vaticanum

GS                      Gaudium et Spes (II Vatican Council)

LG                     Lumen Gentium (II Vatican Council)

Message           The Holy Father‘s Message for the World Day of  Migrants and Refugees

MR                    Mutuae Relationes (Congregation for Religious and for Secular Institutes and Congregation for Bishops)

NMI                   Novo Millennio Ineunte (Pope John Paul II)

OE                     Orientalium Ecclesiarum (II Vatican Council)

OR                     L'Osservatore Romano

PaG                   Pastores Gregis (Pope John Paul II)

PB                      Pastor Bonus (Pope John Paul II)

PdV                    Pastores dabo vobis (Pope John Paul II)

PG                     Patrologia Graeca, Migne

PL                      Patrologia Latina, Migne

PO                     Presbyterorum Ordinis (II Vatican Council)

PT                      Pacem in Terris (Pope John XXIII)

RH                     Redemptor Hominis (Pope John Paul II)

RMa                   Redemptoris Mater (Pope John Paul II)

RMi                    Redemptoris Missio (Pope John Paul II)

SC                      Sacrosanctum Concilium (II Vatican Council)

 

 

[1]John Paul II, Message for the World  Day of Peace 2001 Dialogue between Cultures for a Civilisation of Love and Peace, 12: AAS XCIII (2001) 241; cf. also John Paul II, Apostolic Letter Novo millennio ineunte, 55: AAS XCIII (2001) 306.

[2] Pontifical Commission for the Pastoral Care of Migration and Tourism, circular letter to Episcopal Conferences Chiesa e mobilit umana, 8: AAS LXX (1978) 362.

[3] Cf. John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Ecclesia in Europa, 8: AASXCV (2003) 655 and Post-Synodal Apostolic Exhortation Pastores Gregis, 69 and 72:OR 17 October 2003, p. 12.

[4] Cf. John Paul II, Angelus Domini of Sunday, 6 July 2003: OR 7-8 July 2003, p. 1.

[5] The Convention also mentions those principles and rights that already exist in the international arena and which can very well be applied to migrants. It makes reference, for instance, to the Slavery Conventions, the Convention against Discrimination in the Field of Education, the Convention on the Elimination of All Forms of Racial Discrimination, as well as to the International Covenant on Civil and Political Rights, the International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights, the Convention on the Elimination of All Forms of Discrimination against Women and the Convention against Torture and Other Cruel, Inhuman or Degrading Treatment or Punishment. Mention must also be made of the Convention on the Rights of the Child, and the Manila Declaration of the Fourth United Nations Congress on the Prevention of Crime and the Treatment of Offenders. It is therefore significant that even those countries, which have not ratified the International Convention on the Protection of the Rights of All Migrant Workers and the Members of Their Families, are obliged to observe the aforementioned instruments, naturally if they ratified or subsequently adhered to them. On the rights of migrants in civil society, cf., for instance from the Church’s point of view, John Paul II, Encyclical Laborem Exercens, 23: AAS LXXIII (1981) 635-637.

[6] Cf. 2003 Message: OR Weekly Edition in English, 11 December 2002, p. 6.

[7] Cf. Second Vatican Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern WorldGaudium et Spes, Proemio, 22, 30-32: AAS LVIII (1966) 1025-1027; 1042-1044; 1049-1051; Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 1, 7 and 13; AAS LVII (1965) 5, 9-11, 17-18; Decree on the Apostolate of the Laity Apostolicam Actuositatem,14: AAS LVIII (1966) 850ff.; John XXIII, Encyclical Pacem in Terris, Part I: AAS LV (1963) 259-269; Pontifical Council Cor Unum and Pontifical Council for the Pastoral Care of Migrants and Itinerant People, Refugees, a Challenge to Solidarity: EV 13 (1991-1993) 1019-1037; Pontifical Commission for Justice and Peace, Self-Reliance: compter sur soi: EV 6 (1977-1979) 510-563; and Pontifical Council for Justice and Peace, The Church and the Racism, Vatican City 2001.

8  1999 Message, 3: OR 21 February 1999, p. 7.

9  Cf. John Paul II, Encyclical Redemptoris Mater, 25: AAS LXXIX (1987) 394.

10 Cf. Letter to Diognetus 5.1, quoted in Message 1999, 2: l.c. 7.

11 Cf. Clement of Rome, Letter to the Corinthians, X-XII: PG 1, 228-233; Didach, XI, 1; XII, 1-5, ed. F.X. FUNK, 1901, pp. 24, 30; Apostolic Constitutions, VII, 29, 2, ed. F.X. FUNK, 1905, p. 418; Justin, Apologia I, 67: PG 6, 429; Tertullian, Apologeticum, 39: PL1, 471; Tertullian, De praescriptione haereticorum, 20: PL 2, 32; Augustine, Sermo 103, 1-2. 6: PL 38, 613-615.

12Cf. John Paul II, Encyclical Redemptoris Missio, 20: AAS LXXXIII (1991) 267.

13 We may remember among others the Salesians of St John Bosco in Argentina, the initiatives of St Frances Xavier Cabrini, especially in North America, the two religious Congregations founded by Blessed Bishop Giovanni Battista Scalabrini, the Bonomelli Work in Italy, the St. Raphaels-Verein in Germany and the Society of Christ for Emigrants founded by Card. August Hlond in Poland.

14 Cf. Sacra Congregatio Consistorialis, Decretum de Sacerdotibus in certas quasdam regiones demigrantibus Ethnografica studia: AAS VI (1914) 182-186.

15 Cf. Sacra Congregatio Consistorialis, Decretum de Clericis in certas quasdam regiones demigrantibus Magni semper:  AAS XI (1919) 39-43.

16 Cf. AAS XLIV (1952) 649-704.

17The first part of the encyclical Pacem in Terris, dealing with the right to emigrate or immigrate, states, “Every human person has the right to move freely and to settle anywhere within the political community of which he is a citizen and also the right, when legitimate interests make this advisable, to immigrate to other political communities and settle there”: l.c. 263.

18Second Vatican Council, Decree on the Pastoral Office of Bishops in the ChurchChristus Dominus, 18: AAS LVIII (1966) 682. Regarding the “dispositions already given” cf. Pius X, Motu proprio Iam pridem: AAS VI (1914) 173ff; Pius XII, Apostolic Constitution Exsul Familia, especially the normative part, l.c. 692-704; Sacra Congregatio Consistorialis, Leges Operis Apostolatus Maris, auctoritate Pii Div. Prov. PP. XII conditae: AAS L (1958) 375-383.

19Cf. 1993 Message, 6: OR 2nd August 1992, p. 5.

20 Paul VI, Motu proprio Pastoralis Migratorum Cura: AAS LXI (1969) 601-603.

21 Congregation for Bishops, InstructionDe pastorali migratorum cura (Nemo est): AASLXI (1969) 614-643.

22 Cf. The Church and Human Mobility, l.c. 357-378.

23 Cf. CIC Can. 294 and John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Ecclesia in America, 65 note 237: AAS XCI (1999) 800. Cf. also John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Ecclesia in Europa, 103 note 166, l.c. 707.

24 Cf. John Paul II, Apostolic Constitution Sacri Canones, AAS LXXXII (1990) 1037.

25  For specific norms and regulations concerning the Eastern Catholic Churches in this context, cf. CCEO, Can. 315 (which deals with Exarchates and Exarchs),  Can. 911 and 916 (on the status of the foreigner and the local ordinary, his own ordinary and his own parish priest), Can. 986 (on authority of government), Can. 1075 (on the competent forum) and Can. 1491 (on laws, customs and administrative acts).

26John Paul II, Apostolic Exhortation Familiaris Consortio, 77: AAS LXXIV (1982) 176.

27 Cf. Congregation for Institutes of Consecrated Life and Societies of Apostolic Life, Instruction Starting Afresh from Christ, a Renewed Commitment to Consecrated Life in the Third Millennium, 9, 35, 36, 37 and 44: OR Weekly Edition in English 26 June 2002, Special Insert pp. III, VIII, IX.

28John Paul II, Encyclical Redemptor Hominis, 14: AAS LXXI (1979) 284-286.

29Cf. in particular the 1992 Message: OR 11 September 1991, p. 5, and those of 1996:OR  6 September 1995, p. 6 and 1998: OR 21 November 1997, p. 4.

30Cf. 1993 Message: 2, l.c. 5.

31 Cf. John Paul II, “Faith Calls Us to Welcome the Immigrant”, Address to the IV World Congress on the Pastoral Care of Migrants and Refugees (5-10 October 1998): ORWeekly Edition in English 4 November  1998, p. 8. Cf. Pontifical Council for the Pastoral Care of Migrants and Itinerant People, the Holy Father’s Address, 2: Proceedings of IV World Congress on the Pastoral Care of Migrants and Refugees,Vatican City 1999, p. 9.

32  Cf. 1996 Message: OR 6 September 1995, p. 6.

33 1988 Message, 3b: OR 4 September 1987, p. 5.

34 Cf. 1990 Message, 5: OR 22 September 1989, p. 5, and those of 1992, 3, 5-6: l.c. 5, and 2003: OR 2-3 December 2002, p. 7.

35 Cf. 1987 Message: OR 21 September 1986 p.5, and that of 1994: OR 17 September 1993, p. 4.

36 Giovanni Battista Scalabrini, Memorandum for the constitution of a pontifical commission Pro emigratis catholicis (4 May 1905), in  S. Tomasi and G. Rosoli, “Scalabrini  e le migrazioni moderne. Scritti e carteggi”, Turin 1997, p. 233.

37John Paul II, Apostolic Constitution on the Roman Curia Pastor Bonus, 149-151: AASLXXX (1988) 899-900.

38John Paul II, Address to the members of the International Catholic Migration Commission, 4: OR 12-13 November 2001, p. 6.

39 Ibidem.

40 In particular Paul VI in his Apostolic Exhortation Evangelii Nuntiandi (no. 20) draws attention to the need for  the evangelization of different cultures. He states that “what matters is to evangelize man’s culture and cultures … in the wide and rich sense which these terms have in Gaudium et spes [cf. no. 53], always taking the person as one’s starting point and always coming back to the relationships of people among  themselves and with God. The Gospel, and therefore evangelisation, are certainly not identical with culture, and they are independent in regard to all cultures. Nevertheless, the Kingdom which the Gospel proclaims is lived by men who are profoundly linked to a culture, and the building up of the Kingdom cannot avoid borrowing  the elements of human culture and cultures”: AAS LXVIII (1976) 18-19.

41 Cf. also Congregation for the Doctrine of the Faith, Letter to the Bishops on Certain Aspects of the Church as Communion, 8-9: AAS LXXXV (1993) 842-844.

42Cf. also Second Vatican Council, Decree on the Missionary Activity of the Church Ad Gentes, 11: AAS LVIII (1966) 959-960.

43 Ibidem 38: l.c. 986.

44 Cf. Second Vatican Council, Decree on the Ministry and Life of PresbytersPresbyterorum ordinis, 2 and 6: AAS LVIII (1966) 991-993, 999-1001 and the Constitution on the Sacred Liturgy Sacrosanctum Concilium, 47: AAS LVI (1964) 113, as also GS 66.

45Cf. Interdicasterial Instruction on Certain Questions Concerning the Collaboration of the Laity with the Ministry of the Priests Ecclesiae de mysterio: AAS LXXXIX (1997) 852-877 and PaG 51 and 68.

46Chapter 15 of the Epistle to the Romans gives us the basic features of the duty to welcome others. The welcome must be “Christian” and profound and come from the heart (May God “help you all to be tolerant with each other, following the example of Christ Jesus”: v. 5); it must be generous and gratuitous, disinterested and not possessive (“Christ did not think of himself … , he became [a] servant”: vv. 3 and 8); it must be benevolent and strengthening (“Each of us should think of his neighbours and help them to become stronger Christians”: v. 2); and it must be attentive to the weaker ones (“We who are strong have a duty to put up with the qualms of the weak without thinking of ourselves”: v. 1).

47Cf. 1992 Message, 3-4: l.c. 5 and PaG 65.

48Cf. John Paul II, Apostolic Exhortation Christifideles Laici, 23: AAS LXXXI (1989) 429-433, RMi 71 and PaG 40.

49John Paul II, Apostolic Letter on the Sanctification of Sunday Dies Domini, 53: AASXC (1998) 747; cf. Congregation for Divine Worship, Directory on Sunday Worship in the Absence of a Priest Christi Ecclesia, 18-50: EV XI (1988-1989) 452-468, and Interdicasterial Instruction Ecclesiae de mysterio, Art. 4 and 7: l.c. 860, 869-870.

50Cf. Congregation for Divine Worship and the Discipline of the Sacraments, Directory on Popular Piety and the Liturgy. Principles and Orientations, Vatican City, 2002; and International Theology Commission, Faith and Inculturation, Part Three, Present-day Inculturation Problems, 2-7: EV 11 (1988-1989) 876-878.

51Cf. Second Vatican Council, Decree on the Eastern Catholic Churches Orientalium Ecclesiarum, 4 and 6: AAS LVII (1965) 77-78.

52Cf. Congregation for Divine Worship and the Discipline of the Sacraments, De Benedictionibus, Vatican City 1985.

53Cf. 1991 Message: OR 15 August 1990, p. 5; Secretariats for Christian Unity, for Non-Christians and for Non-Believers and Pontifical Council for Culture (eds.), The Phenomenon of Sects and New Religious Movements: a Pastoral Challenge, Vatican City 1986; and Sects and New Religious Movements: Texts of the Catholic Church(1986-1994) (by the Work Group for New Religious Movements),Vatican City 1995. Regarding "New Age", cf. Pontifical Councils for Culture and for Interreligious Dialogue,Jesus Christ, the Bearer of the Water of Life. A Christian Reflection on the “New Age”, Vatican City 2003.

54As regards the provisions for the coordination of different rites in one and the same territory, cf. CCEO Can. 202, 207 and 322.

55Pontifical Council for the Promotion of Christian Unity, Directory for the Application of Principles and Norms on Ecumenism, 137: AAS LXXXV (1993) 1090.

56John Paul II, Encyclical Ecclesia de Eucharistia, 45: OR 18 April 2003, p. 5. Referring to his encyclical Ut unum sint, the Holy Father states as follows for Catholics: “Conversely, in specific cases and in particular circumstances, Catholics too can request these same sacraments from ministers of Churches in which these sacraments are valid ” (no. 46: AAS LXXXVII [1995] 948). “These conditions, from which no dispensation can be given, must be carefully respected, even though they deal with specific individual cases, because [due to] the denial of one or more truths of the faith regarding these sacraments and, among these, the truth regarding the need of the ministerial priesthood for their validity, … Catholics may not receive communion in those communities which lack a valid sacrament of Orders” (EE 46).

57Pontifical Council for the Promotion of Christian Unity, Directory for the Application of Principles and Norms on Ecumenism, 107: l.c. 1083.

58Cf. RMi 37b, 52, 53, 55-57: l.c. 283, 299, 300, 302-305.

59Cf. Pontifical Council for Interreligious Dialogue and Congregation for the Evangelization of Peoples, Instruction Dialogo e annuncio, 42-50: AAS LXXXIV (1992) 428-431.

60In schools in which meals are offered, account must be taken of the dietary rules of the pupils, unless their parents declare that they renounce this. The school should also provide occasion for dialogue on common activities between parents, including those belonging to other religions.

61John Paul II, Apostolic Exhortation Ecclesia in Oceania, 45: AAS XCIV (2002) 417-418.

62Cf. Second Vatican Council, Declaration on the Church’s Relations with Non-Christian Religions Nostra aetate, 1-3, 5: AAS LVIII (1966) 740-744 and also EEu 57.

63Cf. also Secretariat for Non-Christians, The Church’s Attitude Towards the Followers of Other Religions, 32: OR 11-12 June 1984, p. 4.

64Cf. 2002 Message, 3: OR 19 October 2001, p. 5.

65Congregation for Catholic Education, Circular letter The Mobility Phenomenon, addressed to diocesan ordinaries and the rectors of their seminaries, on the inclusion of pastoral care for human mobility in the training of future priests, (1986), Appendix, 3: EV10 (1986-87) 14.

66 Ibidem 4.

67Cf. John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Pastores dabo vobis, 58: AASLXXXIV (1992) 760.

68For the definition of “missionary” or “chaplain” cf. DPMC 35. The new CIC simply uses the word cappellanus, cf. Can. 564-572. Regarding the specific purpose of this missionary activity cf. AG 6; for the necessity of the Church’s mandate cf. DPMC 36; for those the activity is meant for, i.e. the migrants, cf. DPMC 15 and the above-mentioned circular letter The Church and Human Mobility, 2: l.c. 358. As regards the concept of the pastoral care of migrants cf. DPMC 15.

69Cf. DPMC 37 and 42-43.

70Cf. Congregation for Religious and for Secular Institutes and Congregation for Bishops, Directives on the Mutual Relations between Bishops and Religious in the Church, Mutuae Relationes, 11 and 12: AAS LXX (1978) 480-481.

71 Cf. Note 13.

72 John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Vita consecrata, 58: AAS LXXXVIII (1996) 430; cf. EEu 42-43.

73Cf. Congregation for Religious and for Secular Institutes and Pontifical Commission for the Pastoral Care of Migration and Tourism, Joint Letter to All Men and Women Religious in the World: People on the Move 48 (1987) 163-166.

74Cf. Congregation for Religious and for Secular Institutes and the Pontifical Commission for the Pastoral Care of Migration and Tourism, Joint Instruction An Invitation to Pastoral Commitment for Migrants and Refugees, 11: SCRIS Informationes, 15 (1989) 183-184; cf. AG 20 and DPMC 52, 53, 54.

75Cf. 1988 Message: l.c. 5; Instruction Ecclesiae de mysterio, 4: l.c. 860-861, and EEu  41.

76They are generally composed of several parishes that the bishop has requested to work together to constitute an efficacious “missionary community” to operate in a given territory in harmony with the diocesan pastoral plan. It amounts basically to a form of inter-parish collaboration and coordination (between two or more adjacent parishes).

77 Cf. 1996 Message: OR 6 September 1995, p.6.

78Cf. PT, first part: l.c. 265-266.

79 Cf. ibidem, 266.

80 1988 Message, 3c: OR 4 September 1987, p. 5.

81 Cf. 2004 Message: OR 24 December 2003, p. 5.

 

Liên kết